<
Trang chủ » Tra từ
Kết quả
APPN (Advanced Peer-to-Peer Networking)  
Tin học
  • Mạng Ngang hàng Cao cấp APPN đã được IBM giới thiệu vào năm 1985 và đã được tích hợp vào SNA (Systems Network Architecture - Kiến trúc Mạng Các hệ thống). Nó cung cấp các dịch vụ mạng ngang hàng tương tự nhưng không hoàn toàn giống TCP/IP. Một trong những lý do chính khiến IBM giới thiệu APPN là để cung cấp các dịch vụ tính toán client/server cho những người dùng vừa mới chuyển sang TCP/IP hay các dịch vụ khác. APPN về cơ bản là độc lập với tầng kết nối. Nó có thể chạy trên các loại mạng Token Ring, Ethernet, FDDI (Fiber Distributed Data Interface - Giao diện Dữ liệu Phân bố Quang), frame relay (tiếp vận frame), ISDN (Integrated Services Digital Network - Mạng Số Dịch vụ Tích hợp), X.25, SDLC (Synchronous Data Link Control - Điều khiển Liên kết Dữ liệu Đồng bộ), và các mạng siêu cao tốc như B-ISDN và ATM. APPN đặt nền tảng trên khái niệm sau: Các máy tính trên mạng có đủ năng lực xử lý của chính chúng để thực hiện việc quản lý phiên làm việc và tìm đường. APPN truyền tải nhiều dịch vụ khác nhau từ nơi điều khiển trung tâm (như các dịch vụ được cung cấp bởi máy chủ mainframe) đến các điểm điều khiển phân tán hoạt động theo quan hệ ngang hàng. Trong mô hình SNA cũ, mainframe được yêu cầu phải điều khiển những phiên làm việc. Trong mô hình APPN, các trạm của người dùng thiết lập và duy trì các phiên làm việc của chính họ. APPN là một phần trong sửa đổi của IBM dành cho SNA và thường được gọi là “new SNA” (SNA mới). APPN vẫn còn được tích hợp chặt chẽ với SNA, và nó dùng giao thức SNA LU 6.2, giao thức được tung ra thị trường với tên chính thức là APPC (Advanced Program-to-Program Communications - Liên lạc Chương trình-đến-Chương trình Cao cấp). Ngoài ra, APPN hiện thực một giao diện ứng dụng mới hơn, CPI-C (Common Programming Interface for Communications - Giao diện Lập trình Chung cho Việc liên lạc). APPN được so sánh với OSI và TCP/IP trong Hình A-6. APPC Được giới thiệu vào những năm đầu thập niên 80, APPC cũng được gọi là LU 6.2. Nó là giao diện ứng dụng cho APPN. Bằng cách cung cấp một cách cho các ứng dụng trên các hệ thống riêng biệt liên lạc không cần thông qua máy chủ, APPC đã mở đường cho APPN. Nó đã cung cấp sự dịch chuyển ra xa từ nơi điều khiển mainframe tập trung và cho phép các thiết bị có khả năng lập trình như máy tính tự điều khiển những phiên làm việc của chúng. CPI-C CPI là một tập các API nhằm cung cấp một môi trường chung để hiện thực các chương trình trên những nền tảng khác nhau của IBM. Gần đây, IBM đã hiện thực CPI-C trong Networking Blueprint (Kế hoạch chi tiết Mạng) của nó và đã thêm vào sự hỗ trợ cho các giao thức OSI và TCP/IP. APPN cung cấp các dịch vụ định tuyến cho các phiên làm việc APPC. Môi trường định tuyến bao gồm hệ thống phân cấp sau như được minh họa trong Hình A-7: Ens (end nodes - các nút cuối) Một EN là một máy tính với hệ điều hành của chính nó. Nó truyền thông tin về chính nó và mọi tài nguyên cục bộ đã được gắn đến các NN (Network Node - Nút Mạng) kế cận khi nó đăng nhập mạng. NN kế tiếp giữ thông tin nầy và cung cấp đến các nút khác trên mạng APPN. Điều nầy làm giảm nhu cầu tìm kiếm mọi EN khi thiết lập các phiên làm việc. Các máy mainframe và các máy tầm trung của IBM cũng như các hệ thống AIX hay UNIX và các máy để bàn chạy OS/2 là các nút cuối. Những hệ thống lớn nầy cũng có thể là các nút mạng, như được thảo luận tiếp theo. Hình A-6 Kiến trúc APPN NNs (Network Nodes - Các nút Mạng) Một NN là một nút định tuyến giúp lưu chuyển truyền thông giữa các nút cuối. Các NN trao đổi thông tin định tuyến - thông tin về đồ hình mạng - với các NN khác khi những thay đổi xảy ra. Để tiết kiệm băng thông mạng, chỉ những thông tin về những thay đổi vừa xảy ra mới được trao đổi, thay vì phải trao đổi các bảng định tuyến đầy đủ. Các NN cũng định vị các tài nguyên và lưu lại thông tin tài nguyên cho lần dùng sau. Do vậy, các NN phục vụ như những kho chứa phân bố cho thông tin mạng. Yếu tố nầy “được cải tiến theo tuổi” khi nhiều đường nữa được đưa vào danh sách, làm giảm bớt số lần định tuyến phải thực hiện. Máy tính mini IBM AS/400, router IBM 6611, và bộ điều khiển đầu cuối 3174 là các thiết bị có thể phục vụ như các NN. CNN (composite network note - nút mạng tổng hợp) Một CNN cung cấp những sự liên lạc trơn tru giữa APPN và một vùng con SNA. Mạng vùng con, có thể chứa một nút VTAM (Virtual Telecommunication Access Method - Phương pháp Truy cập Viễn thông Ảo) và một số bất kỳ các nút NCP (Network Control Program - Chương trình Điều khiển Mạng), đóng vai trò tương tự một NN. Chú ý rằng VTAM cung cấp cho người dùng khả năng truy cập đến thông tin và các tài nguyên mạng, còn NCP là chương trình điều khiển, NCP chạy trong một IBM FEP (front-end processor) như một IBM 3745. LENs (low-entry nodes - các nút điểm nhập-thấp) Một LEN có thể tham gia trong một phiên làm việc với một nút LEN khác trên mạng, nhưng nó đòi hỏi các dịch vụ của một tầng mạng để làm điều đó. Nút mạng nầy có thể là một phần của một mạng cục bộ hay trực tiếp nối đến LEN. Các PC chạy DOS là những ví dụ của các nút LEN bởi vì chúng không có khả năng vận hành như một nút cuối. OS/2, mặt khác, có đầy đủ những khả năng của nút cuối. BN (border node - nút biên) và EBN (extended border node - nút biên mở rộng) Có thể chia nhỏ một mạng APPN nếu lưu lượng truyền thông trên mạng trở nên quá lớn. Việc phân chia mạng giúp phân lập truyền thông thành những mạng con riêng biệt. BN và EBN định tuyến cho việc truyền thông tin giữa các mạng con. Các APPN NN (NN của APPN) cấp phát động các tài nguyên trên mạng và lưu thông tin định tuyến một cách cục bộ. Trong các mạng SNA xưa hơn, các yếu tố mạng được định nghĩa trong một bảng VTAM được lưu tại trên một mainframe. Ngược lại, các mạng APPN có thể tự cấu hình dùng các phương thức tìm đường. Các nút mạng làm việc với nhau để thiết lập một đường đi trên mạng để hai trạm cuối có thể thiết lập một phiên liên lạc. Mỗi nút chứa một bảng định tuyến được dùng để thiết lập đường đi cho liên kết. Một vấn đề tiềm tàng với APPN là đường đi đã chọn sẽ được giữ cố định trong suốt phiên làm việc. Nếu một nút dọc đường bị hỏng, phiên làm việc không được tìm lại đường và cũng hỏng theo. IBM đã sửa lỗi nầy bằng HPR (High-Performace Routing - Định tuyến Hiệu quả-Cao), kỹ thuật nầy được giới thiệu vào cuối năm 1994. Bạn có thể tham khảo “HPR (High-Performace Routing)” để có nhiều thông tin hơn. Các ứng dụng thiết lập các phiên làm việc với các nút đích khác trên mạng bằng cách truy cập các giao diện phần mềm đơn vị lôgíc tương ứng với các giao thức tầng phiên làm việc (session layer) của mô hình OSI. Những giao diện mức cao nầy cung cấp tên cho các thực thể phần mềm cư trú trong các EN và NN trên mạng. Chú ý rằng các ứng dụng thông qua các LU (logical unit - đơn vị lôgíc) để thiết lập các phiên làm việc, không trực tiếp đến APPN. Về cơ bản, một LU trong một trạm dùng các dịch vụ APPN để định vị một LU đích và thiết lập một phiên làm việc. Các phiên làm việc LU được hình dung như những ống truyền dữ liệu ngang qua mạng từ một ứng dụng đến một ứng dụng khác. Nhiều ứng dụng có thể truy cập một LU đơn, hay một ứng dụng có thể truy cập nhiều LU. Hình A-7. Môi trường định tuyến PPN Tương lai Tương lai của APPN còn trong nghi vấn. Các mạng TCP/IP đã bùng nổ trong nhiều tổ chức. Tuy nhiên, các giao thức SNA thì không có khả năng định tuyến và kết quả là APPN và TCP/IP không kết hợp được. Do đó những nhà thiết kế mạng đang gặp rắc rối. Họ có thể xây dựng hai mạng hay tìm kiếm một giải pháp tận dụng được ưu điểm từ những tính năng liên mạng của TCP/IP để vận chuyển lưu thông SNA trong toàn bộ công ty. Một liên minh lâm thời các nhà cung cấp được gọi là APPN Implementers Workshop đang làm việc để tích hợp TCP/IP và APPN. Một giao thức được gọi là DLSw (Data Link Switching - Chuyển mạch Data Link) được đặt nền tảng trên các tiêu chuẩn của APPN. Nó cung cấp một giải pháp để di chuyển lưu thông SNA qua các mạng TCP/IP bằng cách đóng gói dòng lưu thông thành các gói dữ liệu dạng TCP/IP. IETF ( Internet Engineering Task Force - Lực lượng Đặc nhiệm Kỹ thuật Internet) cũng đang làm việc về DLSw. Về cơ bản, DLSw cung cấp một cách cho những bộ định tuyến tìm ra đường đi cho lưu thông SNA ngang qua một liên mạng (bản thân lưu thông SNA và các phiên làm việc NetBIOS “không có khả năng định tuyến”). Kỹ thuật là nối hai hệ thống SNA hay NetBIOS bằng một cặp định tuyến DLSw. Các bộ định tuyến tiếp nhận tất cả lưu thông được dự định gởi đến hệ thống SNA đích, đóng gói nó, và gởi nó ngang qua liên mạng. Một giải pháp thậm chí còn hấp dẫn hơn là mô hình World Wide Web của các Web browser và các Web server. Nhiều tổ chức đang xây dựng những intranet, tận dụng công nghệ Web để cung cấp cho các người dùng trên mọi hệ điều hành sự truy cập đến thông tin trên các server nội bộ. Công nghệ Web cũng cung cấp một con đường để làm việc với dữ liệu mainframe. Những phương pháp mới cho phép truy cập các hệ thống SNA bằng các Web browser trên các mạngTCP/IP đang nổi lên, như phần mềm intranet IOS/390 TCP/IP của Cisco Systems. Đối với những người dùng ở xa hay thường xuyên di chuyển nhưng vẫn muốn thực hiện kết nối tạm thời vào mạng công ty thì sự truy cập dựa trên-Web là đặc biệt hấp dẫn. Cách tốt nhất cho họ để làm điều đó là thông qua một giao diện dựa trên-Web duy nhất để truy cập đến tất cả các hệ thống thông tin công ty. Nói chung, lưu thông SNA trên các mạng công ty và trên các WAN chắc hẳn sẽ giảm đáng kể sau vài năm nữa khi những phương pháp mới cho việc truy cập các hệ thống IBM truyền thống ngày một phát triển. TỪ MỤC LIÊN QUAN APPC (Advanced Program-to-Program Communication; DLSw (Data Link Switching; HPR (High-Performace Routing), IBM; SAA (Systems Application Architecture); và SNA (Systems Network Architecture)
©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt