<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Cao Xuân Dục

Tiểu sử:

Cao Xuân Dục

Cao Xuân Dục (高春育) là danh sĩ đời Duy Tân, tự Tử Phát, hiệu Long Cương hay Long Cương Cổ Hoan Đông Cao, quê xã Thịnh Khánh sau đổi là Thịnh Mỹ, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An, nay là làng Thịnh Mỹ, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Năm Đinh Sửu 1877, ông đỗ cử nhân đồng khoa với Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Đôn Tiết ở Thanh Hoá và Phan Văn Ái ở Hà Nội. Cao Xuân Dục là một nhà sử học, một nhà nghiên cứu địa phương xuất sắc và bề thế nhất của nước nhà. Ông trải qua nhiều chức quan như: Biện lý Bộ Hình (1883); Án sát Hà Nội (1883); Bố chánh Hà Nội (1884); Tuần phủ Hưng Yên (1889); Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên (1889); Khâm sai Chủ khảo trường thi Hương Hà Nam (1894); Tổng đốc Định Ninh (1896); Phong hàm Kiên Giang Quận công (1898); Phó Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1898); Tổng đốc Tài Quốc Sử Quán (1903) tước An Xuân Tử; Chủ khảo trường thi Hội (1901), quản Quốc Tử Giám; Thượng thư Bộ Học (1907); Cơ mật viện Đại thần - Phụ chính Đại thần; Phong hàm Thái Tử Thiếu Bảo (1908); Phong tước An Xuân Tử (1911); Về hưu với hàm Đông các Đại học sĩ (1913).

Khi Hoàng Cao Khải theo Pháp muốn làm Phó Vương, bắt các quan trong triều phải ký vào biểu dâng lên Vua, Cao Xuân Dục đã không nghe theo, còn đề vào mấy câu:

Nguyên văn:

天 無 二 日

國 無 兩 王

臣 高 春 育

不 可 記

Phiên âm:

Thiên Vô Nhị Nhật

Quốc Vô Lưỡng Vương

Thần Cao Xuân Dục

Bất Khả Ký 

Tạm dịch:

Trời không có hai mặt trời

Nước không có hai vua

Thần Cao Xuân Dục

Không thể ký 

Năm Quý Hợi 1923, ông mất tại quê nhà, thọ 81 tuổi.

Tác phẩm:

Ông còn để lại cho đời các bộ sách rất giá trị về văn hóa, địa lí, sử học, luật học...

  • Quốc triều chánh biên toát yếu

  • Quốc triều sử toát yếu

  • Quốc triều Hương khoa lục (chép danh sách các cử nhân, từ khoa Đinh Mão 1807 đến Tân Mão 1891, gồm 5 quyển, in năm 1893).

  • Quốc triều luật lệ toát yếu

  • Quốc triều tiền biên toát yếu

  • Hà Nam trường hương thi văn tuyển

  • Nhân thế tu tri

  • Quốc triều đăng khoa lục hay Quốc triều khoa bảng lục (ghi hết danh sách các tiến sĩ và phó bảng 3 quyển, tựa năm Quý Tỵ 1893, in năm Giáp Ngọ 1894).

  • Long Cương vãn đối,

  • Long Cương lai hạ tập

  • Đại Nam dư địa chí ước biên...

Và dự vào việc dọn lại bộ Đại Nam nhất thống chí trong năm Kỷ Dậu 1909.

Quốc triều hương khoa lục (8 quyển kể cả quyển thủ và 2 quyển tục biên, sách này ghi lại tên họ, quê quán của những người thi đỗ) do ông biên soạn, sách in ván gỗ, giấy bản thường (Tham khảo bản dịch của Nguyễn Thúy Nga; Nguyễn Thúy Lâm. NXB TPHCM, 1993).

Trên trang đầu, đề tên sách: Quốc triều hương khoa lục, ở phía phải có ghi Thành Thái Quý Tỵ (1893); phía tả: “Long Cương tàng bản” (ván in để tại thư viện Long Cương). Quyển thủ: Bài tựa của Hoàng Cao Khải (hiệu Thái Xuyên) đề năm Thành Thái thứ tư (1892); tiểu dẫn của tác giả, viết năm Thành Thái thứ năm (1893); liền sau bài tựa, có tên người hiệu đính: con trai, Cao Xuân Tiếu (hiệu Bạng Sa); con rể, Đặng Văn Thụy (hiệu Mã Phong). Thứ đến bài tổng luận về khoa cử ở Việt Nam và thể nói chung về việc thay đổi của các khoa thi hương triều Nguyễn ở Việt Nam Q.I: Phàm Lệ (9 điều). Thứ đến Mục lục; có kể rõ trong từng quyển gồm có những khoa nào, mỗi khoa có mấy trường thi. Thí dụ các trường: Thừa thiên, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, v.v... Từ Q.I đến Q.IV, từ khoa đầu tiên là khoa Gia Long Đinh Mão (1807) đến Thành Thái Tân Mão (1891), gồm 38 khoa 3.972 người thi đậu. Q.V. trở đi là tục biên, từ khoa Thành Thái Giáp Ngọ năm thứ sáu (1894) đến Khải Định Mậu Ngọ, năm thứ ba (1918) thêm 9 khoa, có 1254 người thi đậu. Tổng cộng từ khoa đầu thi hương triều Nguyễn đến khoa kết cục, gồm 47 khoa và số người thi đậu là: 5226 người. Về tổ chức thi hương triều Nguyễn, trong toàn quốc, mỗi khoa, có 6 trường hay 7 trường, có khoa 5 trường hay 4 trường, tùy theo hoàn cảnh xã hội. Về mỗi khoa, tác giả chưa rõ thể lệ thi cử, tên các chánh, phó chủ khảo, số học sinh lấy đỗ, v.v... Sách này tuy chỉ là danh sách chung các hương cống, cử nhân triều Nguyễn từ đầu đến kết cục (1807-1919) nhưng nó cũng giúp ta nhiều khi cần tìm một tên người khoảng thời gian ấy.

Tổng đốc Cao Xuân Dục

Quốc triều khoa bảng lục (5 quyển ghi chép tên họ, quê quán của những người thi đỗ) cũng do ông biên soạn.

Trang tên sách đề rõ: Quốc triều khoa bảng lục, phía bên phải có ghi Thành Thái Giáp Ngọ (1894) phía tả: “Long cương tàng bản” (ván in để tại thư viện Long cương. Thứ đến bài tựa thứ nhất của tác giả, viết năm Thành Thái Quý Tỵ, năm thứ 5 (1893). Bài tựa thứ hai của Nguyễn Trung Quán (tự Nhất Chi, hiệu Văn Phong người Nghệ An, viết năm Thành Thái thứ 5 (1893) khi làm Toản tu Quốc sử quán ở Huế. Bài tựa thứ ba của Vũ Phạm Hàm (tự Mộng Hải) viết năm Thành Thái thứ 6 (1894) khi làm đốc học Hà Nội kiêm Đồng Văn quán. Thứ đến Phàm lệ (có 13 điều), tiếp đó có ghi tổng số các khoa thi (đến Thành Thái thứ tư, 1892).

Q.1, tờ 1: Ngoài tên tác giả Cao Xuân Dục, tự Tử Phát, hiệu Long Cương biên tập, có ghi tên người hiệu đính: Con trai tác giả là Cao Xuân Tiếu, tự Bạng Sa hai con rễ tác giả là Đặng Văn Thụy, hiệu Mã Phong Nguyễn Duy Nhiếp hiệu Lang Bính.

Mỗi khoa thi có ghi rõ thể lệ vào thi, chấm thi, tên các quan chấm thi, số và tên người thi đậu. Về mỗi người thi đậu có ghi tên, tuổi, quê quán, gia thế, chức nghiệp và các tác phẩm nếu có.

Nhận xét về Cao Xuân Dục:

Phó giáo sư Chương Thâu (Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu) có nhận xét đôi điều về Cao Xuân Dục:

"Cao Xuân Dục có thể xứng đáng là một nhà văn hoá lớn ở nước ta cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đứng đầu bộ Học và Sử Quán, ông chỉ đạo và tham gia biên soạn cùng một số học giả ở hai cơ quan này nhiều bộ sách về sử và địa lý".

Cao Xuân Dục rất có ý thức sưu tầm bảo lưu sách cổ, trong thời gian làm quan khắp nơi, cụ dày công tìm kiếm thuê người chép lại những bộ sách quý hiếm, xây dựng nên Long Cương Bảo Tàng Thư Viện, một trong vài thư viện lớn bậc nhất ở Nghệ Tĩnh (cùng với Mộng Thương thư trai của gia đình Nguyễn Chi ở Can Lộc).


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt