<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Loài barbata
Chloris barbata

Chloris barbata Sw. - Cỏ mật, Cỏ mật lông.

Cỏ sống lâu năm, rễ bò dài, gốc có đốt, phân nhánh. Thân mọc thành bụi, thẳng đứng, dài 30 - 90cm, khía rãnh, nhẵn, chia đốt dày. Lá phẳng, khi khô mép gấp lại, hình dải hẹp, nhọn đầu, nhẵn hay có lông ở gốc; bẹ lá dẹt, nhẵn, họng có lông; lưỡi bẹ không rõ.

Cụm hoa gồm 2 - 20 bông xếp thành hai dãy, mảnh, có lông cứng. Bông chét xếp lợp dày đặc theo một bên, có một hoa lưỡng tính. Mày không đều nhau, hẹp, rất nhọn. Hoa ở dưới lưỡng tính, không cuống hình bầu dục, ngược, mày hoa gần tròn, đầu nhọn hay chia thùy có lông dày trắng và có phún. Hoa ở trên trung tính, có cuống màu tía nhạt. Quả hình trái xoan. 

Chloris barbata Sw.

1. Dạng chung của cây;

2. Bông chét nhìn mặt trước;

3. Bông chét nhìn mặt sau; 4. Mày;

5. Hoa lưỡng tính; 6. Hoa trung tính.

Phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaixia. Ở nước ta có gặp tại nhiều nơi.

Cây mọc hoang ở các đồi núi, bờ ruộng vùng núi, ven đường, nơi đất ẩm.

Có hoa từ tháng 5 đến tháng 8.

Là loại cỏ chăn nuôi được ưa chuộng, nhất là khi cây chưa ra hoa. Rễ cây được dùng làm thuốc bổ huyết, thông huyết.


Bulbostylis barbata

Bulbostylis barbata (Rottb.) Clarke - Cói chát râu, Cỏ chát.

Cỏ hằng năm, mọc thành bụi; thân mảnh không có lông, cao 5 - 25cm, có rãnh. Lá hẹp, mép cuộn lại, dài gần bằng nửa thân; bẹ lá có lông trắng ở cổ.

Cụm hoa có lá bắc ngắn, mang 3 - 20 bông nhỏ thuôn mũi mác, tập hợp thành đầu gần tròn. Hoa lưỡng tính. Các vẩy hình trái xoan hơi nhọn, màu nâu hung, mép có lông mịn. Nhị 2, có bao phấn hơi nhọn, 3 đầu nhụy dài.

Quả bế hình cầu, hình trứng hoặc hình ba góc, cao 0,7mm, màu vàng rơm, đầu có gốc vòi nhụy rụng để lại một chỗ phồng.

 

 

Bulbostylis barbata (Rottb.) Clarke

1. Toàn cây; 2-2'. Cụm hoa; 3. Bông nhỏ; 4. Quả.

 

Phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Ôxtrâylia và Nam Mỹ. Ở nước ta có gặp tại nhiều nơi: Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hà Tây, Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh.

Thường gặp trên đất sét, đất ruộng ẩm, đất hoang phèn, đất mới trồng.

Có thể dùng làm thức ăn cho gia súc. Toàn cây cũng được dùng làm thuốc có tác dụng cầm máu; ở Vân Nam (Trung Quốc) dùng trị thổ huyết và nội tạng xuất huyết.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt