<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Ngày 1 tháng 12
Tác giả của chiến lược cạnh tranh toàn cầu đến Việt Nam

Ngày 1.12.2008, giáo sư Michael E.Porter, tác giả của chiến lược cạnh tranh toàn cầu đã đến Việt Nam.

Trong buổi hội thảo với nội dung “Cạnh tranh toàn cầu và lợi thế Việt Nam” giáo sư Michael E.Porter khẳng định, cạnh tranh là xây dựng sự độc đáo cho sản phẩm và thương hiệu, trong khi nhiều lãnh đạo doanh nghiệp (DN) lại cho rằng cạnh tranh là vươn lên vị trí tốt nhất.

Giáo sư Michael E.Porter. Ảnh: vinova

Theo giáo sư Michael E.Porter, điểm hạn chế của các DN Việt Nam là quan niệm sai lầm trong việc hoạch định chiến lược vì DN nào cũng nhắm tới mục tiêu trở thành DN tốt nhất, làm ra sản phẩm và dịch vụ tốt nhất. Dịch vụ tốt nhất có thể đúng với đối tượng này nhưng không đúng với đối tượng khác nên việc đem đến những sản phẩm, dịch vụ khác biệt mới là chiến lược hiệu quả. Ngoài quan niệm sai lầm nói trên, các DN Việt Nam còn có hạn chế là ôm đồm, muốn cùng lúc thực hiện được nhiều thứ và hay sao chép, thay đổi chiến lược. Việc sao chép chiến lược của các đối thủ cạnh tranh sẽ làm giảm hình ảnh độc đáo của chính DN. Bên cạnh đó, mỗi chiến lược phải được thực hiện liên tục trong thời gian khoảng 3 năm để nhận biết mức độ thành công của nó. Giáo sư Michael E.Porter đã chia sẻ với các doanh nhân về lợi thế của Việt Nam và những xu hướng trong nền kinh tế thế giới, chiến lược tổng thể của một công ty đa ngành, chiến lược quốc tế cho những công ty Việt Nam.

Các DN Việt Nam nên tập trung khai thác phát triển các nhóm ngành để tạo sức mạnh cạnh tranh. Ví dụ như hiện tại, các liên kết nhóm ngành như hàng may mặc – giày dép – da và các sản phẩm từ da, dầu khí – hóa phẩm – nhựa, thủy sản và thủy sản chế biến – nông sản, đồ gỗ - dịch vụ xây dựng – thiết bị và dịch vụ văn phòng đang gặt hái những thành công.

Giáo sư Michael E.Porter hiện đang giảng dạy tại đại học Harvard và là chuyên gia hàng đầu thế giới về chiến lược và chính sách cạnh tranh. Ông là người đầu tiên đưa ra lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia và áp dụng nghiên cứu chiến lược, chính sách cạnh tranh cho nhiều nền kinh tế trên thế giới.

Ngoài công việc giảng dạy, ông còn là cố vấn cho lãnh đạo các nền kinh tế lớn như: Hoa Kỳ, Ireland, Nga, Singapore, Anh …trong lĩnh vực cạnh tranh..

Ông cũng là tác giả của những tác phẩm kinh điển như Chiến lược cạnh tranh (Competitive Strategy), Lợi thế cạnh tranh (Competitive Advantage), Lợi thế cạnh tranh quốc gia (Competitive Advantage of Nation).

Giáo sư Michael Porter được mệnh danh là bộ 3 “cha đẻ” trong lĩnh vực kinh doanh thế giới hiện đại. Ông là “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh, còn Peter Drucker là “cha đẻ” quản trị kinh doanh hiện đại và Philip Kotler, “cha đẻ” marketing hiện đại.

Michael Porter chính là người chủ trì Báo cáo xếp hạng thường niên về năng lực cạnh tranh và tiềm năng phát triển (Global Competitiveness Report) của hơn 120 quốc gia của Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới.

Tham khảo

Chiến lược là... sự độc đáo – Báo Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 1.12.2008.

Hội thảo “Cạnh tranh toàn cầu và lợi thế của Việt Nam” – Báo Pháp Luật ngày  22.11.2008.

“Cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh đến Việt Nam – Báo Tuổi Trẻ ngày  23.9.2008.

Lời khuyên của các "cha đẻ" – Báo Lao Động ngày  3.12.2008.


Thành phố Venice bị lụt

Ngày 1.12.2008, thành phố nổi Venice của Italy đã bị nhấn chìm vì trận lụt lớn nhất trong hơn 20 năm qua, với mực nước cao hơn bình thường 1,56m.

Được xây dựng trên 118 hòn đảo trên biển Adriatic, trong một vịnh dài 60 km, rộng 4 km phía Bắc Italy, thành phố Venice có diện tích 458 km2 với 175 kênh đào (tổng chiều dài 38km) và 444 cây cầu. Phân cách giữa những khu nhà là những dòng kênh và sông đào. Vì là thành phố nổi trên sông nên mỗi năm, Venice phải trải qua khoảng 200 ngày ngập với mức độ nặng nhẹ khác nhau.

Thành phố Venice chìm trong biển nước. Ảnh: Báo Đất Việt

Tình trạng ngập lụt nghiêm trọng xảy ra ngày 1.12 là do gió lớn, cộng với lượng mưa nhiều và tuyết rơi kéo dài trong nhiều ngày ở miền bắc Italy đã  làm cho mực nước dâng cao khiến các hoạt động của thành phổ nổi tiếng này bị tê liệt.

Trong thập kỷ từ năm 1993-2002, thành phố Venice đã bị ngập 50 lần, năm 1996, khoảng 5.000 người dân tại Venice đã lâm vào cảnh không nhà sau khi thành phố bị ngập sâu dưới nước 1,94 m.

Là thành phố nổi trên sông nên phương tiện di chuyển chính của người dân Venice là những chiếc thuyền đáy bằng, hay còn được gọi là Gondola. Venice đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Năm 1987.

Tham khảo

Venice chìm trong biển nước  – Báo Thanh Niên ngày  2.12.2008.

Venice-Ý: Trận lụt lớn nhất ở trong vòng hơn 20 năm – Báo Người Lao Động ngày  2.12.2008.

Ý: Venice "chìm" trong nước lụt – Báo Tuổi Trẻ ngày  2.12.2008.

Venice chìm trong nước – Báo Sài Gòn giải phóng ngày  2.12.2008.


Kỷ niệm 30 năm khai phá vùng đất Đồng Tháp Mười

Sơ lược
 

Sáng 1.12.2010, tại Đồng Tháp đã diễn ra hội thảo tổng kết 30 năm khai thác vùng đất Đồng Tháp Mười.

Chi tiết
 

Sau năm 1975, ở khu vực Đồng Tháp Mười có hơn 53% diện tích trên tổng số 670.000 ha đất bị nhiễm phèn nặng nhưng trước nhu cầu bức bách về lương thực, nhà nước đã chủ trương thực hiện nhiều chương trình khai thác Đồng Tháp Mười.

Năm 1988, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra Chỉ thị 74-CT về việc phát triển kinh tế xã hội vùng Đồng Tháp Mười trong kế hoạch từ năm 1988-1990.

Năm 1992, dự án ISA/FOS/ĐTM (Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp Đồng Tháp Mười) được triển khai và kéo dài trong thời gian 12 năm đã biến Đồng Tháp Mười từ vùng đất hoang trở thành vùng sản xuất 2, 3 vụ lúa năng suất cao và phát triển đa dạng nguồn lợi thủy sản.

Chương trình khai thác vùng Đồng Tháp Mười đã góp phần tăng sản lượng lúa từ 293.000 tấn (năm 1979) lên 2,1 triệu tấn (năm 2009); dân số từ hơn 711.000 người tăng lên hơn 1.072.000 người; GDP bình quân đầu người từ 4.669.000 đồng vào năm 1979 tăng lên 8.081.000 đồng vào năm 2009.

Đồng Tháp Mười
 

Đồng Tháp Mười là khu vực rộng khoảng 700.000 ha thuộc 3 tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp.

Hiện nay, hệ thống thuỷ lợi đã phân bố đều khắp vào Đồng Tháp Mười với 22 kênh trục chính dài 593 km, 1.757 km kênh cấp 2 và hệ thống kênh cấp 3, kênh nội đồng… đáp ứng việc tháo chua rửa phèn cho 2/3 diện tích đất phèn (143.000 ha), góp phần nâng tổng diện tích đất canh tác 2 – 3 vụ của tỉnh Đồng Tháp lên trên 200.000 ha. Từ chỗ thiếu lương thực (438.000 tấn năm 1976), tỉnh Đồng Tháp đã vươn lên đạt sản lượng 2,8 triệu tấn lúa/năm, đứng thứ ba sau An GiangKiên Giang.

Thông tin tham khảo
 


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt