<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Bia Thoại Sơn

Bia Thoại Sơn là một di tích văn hóa lịch sử đang được lưu giữ tại đình thờ Thoại Ngọc Hầu, trên triền núi Sập, thuộc thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Bia do Thoại Ngọc Hầu cho lập vào năm 1822, có chiều cao 3 m, rộng 1,2 m, dày 20 cm, mặt bia chạm đúng 629 chữ Hán. Hiện bia vẫn còn được bảo tồn khá nguyên vẹn, các chữ Hán trên mặt bia vẫn còn sắc nét. Tuy nhiên, người đời sau đã tiến hành sơn phết màu mè, khiến tấm bia mất đi diện mạo ban đầu. Cùng với bia Vĩnh Lăng ở Thanh Hoá và bia Vĩnh Tế Sơn ở núi Sam, bia Thoại Sơn là một trong ba di tích lịch sử loại bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.

Sự kiện

Năm 1817, Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh và chủ trương đào con kênh dẫn tới Rạch Giá, con kênh có một vị trí rất quan trọng trong việc giao thông vận tải và phát triển nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, kinh tế của nhân dân trong vùng. Ông được triều đình khen ngợi và cho lấy tên ông đặt cho con kênh là Thoại Hà. Để đánh dấu công trình trọng đại này, Thoại Ngọc Hầu đã soạn một bài văn và cho khắc vào bia đá. Năm 1822, ông long trọng làm lễ dựng bia và khánh thành miếu thờ Sơn thần tại triền núi Sập. Năm 1828, sau khi Thoại Ngọc Hầu mất, nhân dân vùng núi Sập lập một ngôi đình bao bọc bia Thoại Sơn để tưởng nhớ công lao của ông. Về sau, người ta lập thêm một tấm bia nữa dựng bên ngoài đình. Năm 2002, nhân kỷ niệm 180 năm ngày lập bia Thoại Sơn, Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng gởi tặng tỉnh An Giang một tấm bia do làng đá Non Nước khắc theo bản dịch ra chữ quốc ngữ từ bia gốc của Bảo tàng An Giang, dựng ở khu du lịch Hồ Ông Thoại.

Nội dung

Bia Thoại Sơn gốc có nhiều bản dịch ra quốc ngữ. Đây là nội dung bản dịch theo bia quốc ngữ ở hồ Ông Thoại:

Kể từ thuở trời đất bắt đầu phân chia thì núi này đã có từ lâu rồi vậy. Nhưng tên ngọn núi thì thực đến nay mới là bắt đầu. Huống chi tên núi lại là đặc ân của vua ban. Nơi đây cây cối tốt tươi, khói mây đổi sắc, so với núi non tầm thường há chẳng khác nhau một trời một vực sao!

Xưa kia, núi này thuộc vùng ranh giới với Phiên Bang, thường gọi là núi Sập. Từ ngày các triều vua trước mở mang khai thác cõi Nam mới đưa vào bản đồ. Nhưng cây cối hoang dại vẫn che phủ um tùm và là nơi hang ổ cho hươu nai, còn cảnh đẹp thì vẫn bị chôn vùi không biết bao nhiêu năm vậy.

Mùa xuân năm Mậu Dần (1818) lão thần vâng chỉ giám sát đôn đốc việc đào kinh Đông Xuyên. Ngày nhận lệnh vua, lão thần sớm khuya kính sợ, lo phát cỏ dại, cùng vét cát bùn, đã đào được con kinh dài một vạn hai ngàn bốn trăm mười tầm. Sau một tháng thì hoàn thành, nghiễm nhiên trở thành một dòng sông lớn mãi mãi tiện lợi cho thuyền bè qua lại. Mà núi này cao trên mười trượng, chu vi hai ngàn bốn trăm bảy mươi tám tầm, xanh biết um tùm, cheo leo vách đá, nằm bên đông kinh sống động như rồng thần giỡn nước, như phượng đẹp tắm sông. Đó chẳng phải là cảnh đẹp của tạo hóa đã chung đúc nên hay sao? Nhưng bấy lâu trời đất che giấu, chân người ít qua. Một sớm con kinh này được đào xong cùng ngọn núi đều được đưa vào bức họa đồ trình lên cho vua xem. Có lẽ đó cũng là cái duyên kỳ ngộ của ngọn núi này vậy.

Sau đó lại kính theo chỉ dụ của nhà vua, vì tước hiệu của lão thần là Thoại Ngọc, lại thực là người trông coi việc đào kinh này nên mới ban tên cho núi là Thoại Sơn, kinh Đông Xuyên để biểu dương lão thần, vậy nên lão thần cũng nhờ ngọn núi này mà được ban cho niềm vinh dự lớn lao ấy vậy.

Trộm nghĩ, lão thần vốn người Quảng Nam, từ nhỏ lánh mình vào Nam, rồi theo việc quân, theo hầu bên vọng các. Nhờ ơn tri ngộ, bôn tẩu trên miền thượng đạo, lúc thì các nước Xiêm La, Ai Lao, Cao Miên, được trấn giữ tại nơi còn khuyết chức là Lạng Sơn, Định Tường, lại kính cẩn nhân mệnh vua, làm quan tiết trấn Vĩnh Thanh và được ban ân bảo hộ Phiên Bang. Bấm ngón tay trong hơn mấy chục năm, gặp gỡ hai triều, một lòng thành kính, hai lần giữ ấn bảo hộ, trải nhiều năm cai giữ thành Châu Đốc. Trong thời gian này đã đào kinh Vĩnh Tế, dẹp nạn Cao Miên. Dù bản chức thô vụng, lập được chút công lao, nhưng cứ khư khư công danh mà bản thân lại không được như khấu chuẩn, lo việc then chốt, như vua Vũ giữ yên núi sông thì e rằng sau những ngày sống hào hoa, giàu sang mà về nghỉ hưu thì khác gì như cây cỏ tàn tạ vậy.

Nào ngờ việc đào kinh lại được ơn vua soi xét, đã lấy tên của lão thần đặt tên cho núi này. Như thế núi tức là lão thần, lão thần tức là núi này, thì núi này sẽ sừng sững lâu dài cùng trời đất, mãi mãi không bao giờ bị tiêu mòn vậy.

Từ nay về sau, khách thuận dòng đi qua chân núi, chắc không ai là không chỉ vào núi mà cùng nhau vui vẻ say sưa chuyện trò, tưởng nhớ đến cửu trùng cần mẫn mở mang bờ cõi, sau nữa luận bàn nguyên do núi được ban tên.

Vinh dự thay cho tên gọi ấy, vinh dự thay cho ngọn núi này! Có lẽ vinh dự không riêng cho núi mà càng vinh dự đời đời cho lão thần về cuộc hạnh ngộ này nữa vậy.

Kính xin dựng ngôi miếu sơn thần nơi chân núi và khắc đá làm bia, ghi to hai chữ "Thoại Sơn" đồng thời kể lại lai lịch tên núi, những mong được lưu truyền muôn đời bất hủ!

Sau ngày Đông chí năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ ba (1822), Khâm sai Thống chế, đóng giữ đồn Châu Đốc, được lãnh ấn bảo hộ nước Cao Miên, kiêm quản công việc ngoài biên trấn Hà Tiên, được thưởng nhất cấp, kỷ lục một lần, Thoại Ngọc Hầu biên soạn, Đốc học thành Gia Định Cao Bá viết chữ. Thiêm sự Bộ Công, vâng giữ công việc lương tiền đồn Châu Đốc Đoàn Hầu đính chính.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt