<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Lăng Thiệu Trị

Vị trí
 

Lăng Thiệu Trị là khu lăng tẩm của vị vua thứ ba triều Nguyễn. Lăng có tên là Xương Lăng, xây trên núi Thuận Đạo, ở hữu ngạn sông Tả Trạch, thuộc địa phận làng Cự Chính, xã Thuỷ Bằng, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế 7km.

Sơ lược lịch sử vua Thiệu Trị
 

Vua Thiệu Trị có tên huý là Nguyễn Phúc Miên Tông, là con trưởng của vua Minh Mạng và bà Hồ Thị Hoa, sinh năm Đinh Mão (1807). Năm Canh Tý (1841), vua Minh Mạng băng hà, Miên Tông lên ngôi ở điện Thái Hoà năm 34 tuổi, lấy niên hiệu là Thiệu Trị.

Vua Thiệu Trị rất chăm lo việc chính trị, việc trị nước. Thiệu Trị noi theo vua Minh Mạng, nối tiếp và hoàn thiện những công việc còn dở dang của đời trước, mong gìn giữ những thành tựu đã đạt được, không ban hành chủ trương chính sách nào thêm. Ông cho đắp đê, đập chắn ngang cửa sông Cửu An.

Vua Thiệu Trị vốn là một người thích thơ, hiền hoà. Khi ông lên ngôi, việc cấm đạo không còn gay gắt như thời Minh Mạng. Ông sùng đạo Nho nhưng cũng mộ đạo Phật.

Thiệu Trị có rất nhiều vợ, có 29 vị hoàng tử, 35 công chúa. Vua mất năm Đinh Mùi (1847), ở ngôi 6 năm, thọ 41 tuổi. Miếu hiệu: Hiến Tổ Chương Hoàng đế, thờ ở án thứ nhất bên phải trong Thế Miếuđiện Phụng Tiên.

Lịch sử xây dựng lăng Thiệu Trị
 

Cổng vào lăng Thiệu Trị - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Lăng Thiệu Trị được khởi công xây dựng năm 1847 và năm 1848 hoàn thành. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc xây dựng thời Nguyễn. Lăng Thiệu Trị là tác phẩm của vua Tự Đức, người nối nghiệp Thiệu Trị. Vua Thiệu Trị ở ngôi 7 năm, chưa kịp chuẩn bị nơi an nghỉ cuối cùng của đời mình thì lâm bệnh nặng, rồi mất ở độ tuổi 41. Trước lúc lâm chung, nhà vua dặn người con trai sắp nối ngôi rằng: “Chỗ đất làm Sơn lăng nên chọn chỗ bãi cao chân núi cận tiện, để dân binh dễ làm công việc. Con đường ngầm đưa quan tài đến huyệt, bắt đầu từ Hiếu Lăng, nên bắt chước mà làm. Còn điện vũ liệu lượng mà xây cất cho kiệm ước, không nên làm nhiều đền đài, lao phí đến tài lực của binh dân”.

Cấu trúc lăng Thiệu Trị
 

Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô hình kiến trúc của lăng Gia Longlăng Minh Mạng. So với hai lăng này, lăng Thiệu Trị nằm gần Kinh Thành hơn. Về bố cục các công trình kiến trúc trên mặt bằng tổng thể, nếu lăng Minh Mạng ghép ba trục của lăng Gia Long lại làm một trục duy nhất thì lăng Thiệu Trị lại dung hoà hai mô thức trên bằng cách thiết kế thành hai trục: trục lăng nằm bên phải và trục tẩm (khu vực điện thờ) nằm bên trái.

Tự Đức làm theo lời trối trăn của vua cha, bắt chước cách làm “toại đạo” giống như lăng Minh Mạng. Toại đạo tức là đường hầm đưa quan tài nhà vua vào huyệt mộ được xây vào ngày 24/03/1848. Đồng thời cách thức mai táng cũng tương tự, việc xây dựng toại bửu, bửu thành hình tròn có hồ Ngưng Thuỷ hình bán nguyệt bao quanh cũng giống lăng Minh Mạng. Lăng Thiệu Trị lại giống lăng Gia Long, tức không có La thành mà lợi dụng những dãy núi đồi chung quanh để làm nên một vòng thành thiên nhiên rộng lớn.

Quá trình xây cất Xương Lăng diễn ra nhanh chóng và gấp rút nên chỉ sau ba tháng thi công, các công trình chủ yếu đã hoàn thành. Ngày 14/06/1848, vua Tự Đức thân hành lên Xương Lăng kiểm tra lần cuối. 10 ngày sau, thi hài vua Thiệu Trị được đưa vào an táng trong lăng sau 8 tháng quàn tại điện Long An ở cung Bảo Định. Vua Tự Đức viết bài văn bia dài trên 2.500 chữ, cho khắc lên tấm bia “Thánh đức thần công”, dựng vào ngày 19/11/1848 để ca ngợi công đức của vua cha.

Khu vực lăng mộ và tẩm điện biệt lập, song song với nhau:

Nhà bia Thiệu Trị - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Phần lăng: nằm bên phải, phía trước có hồ Nhuận Trạch, thông với hồ điện trước khu vực tẩm qua hệ thống cống ngầm tạo thế chi huyền thuỷ chảy quanh co trong khu vực lăng. Ngay sau hồ Nhuận Trạch là Nghi Môn bằng đồng đúc theo kiểu long vân đồng trụ dẫn vào Bái Đình rộng lớn. Hai hàng tượng đá ở hai bên tả hữu sân là tiêu biểu của nghệ thuật tạc tượng nửa đầu thế kỷ XIX ở Huế. Tiếp theo là Bi Đình dạng Phương Đình có tấm bia khắc 2.500 chữ của vua Tự Ðức ca ngợi công đức của vua cha và lầu Đức Hinh ngự trên một quả đồi cong dạng mai rùa. Qua hồ Ngưng Thuý có 3 cây cầu là Chánh Trung (giữa), Ðông Hoà (Phải), Tây Ðình (trái) là đến tam cấp vào Bửu Thành, chỗ đặt thi hài vua Thiệu Trị.

Phần tẩm (điện thờ): xây dựng riêng, cách lầu Ðức Hinh 100m về phía trái. Qua Nghi Môn bằng đá cẩm thạch, bước lên 3 bậc tam cấp qua Hồng Trạch Môn là đến điện Bửu Ðức. Ðiện Bửu Ðức là nơi thờ bài vị của vua và bà Từ Dũ (vợ vua). Trong chánh điện trên những cỗ diêm ở bộ mái và ở cửa Hồng Trạch có khắc trên 450 ô chữ chạm khắc các bài thơ có giá trị văn học và giáo dục. Các công trình phụ thuộc như Tả Hữu Phối điện (trước), Tả Hữu tùng viện (sau) quây quần xung quanh điện Bửu Ðức càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm của chính điện.

Lăng Thiệu Trị còn đó với vẻ đẹp giản đơn, gần gũi, dựa lưng vào chân núi Thuận Ðạo, gần trước mặt lăng là cả một vùng đất bằng phẳng cây cối xanh tươi, ruộng đồng mơn mởn trải dài từ bờ sông Hương tới tận cầu Lim.

Trong khu vực lăng còn có các công trình khác như: cầu Đông Hòa, cầu Tây Định, gác Hiền Quang…


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt