<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thành nhà Hồ

Thành nhà Hồ - Di sản văn hoá thế giới - không chỉ là một kinh đô cổ với nhiều giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, mà còn là một công trình kiến trúc quân sự hoành tráng, độc đáo nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung.

Giá trị lịch sử
 

Thành nhà Hồ hiện nay nằm trên hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Đây là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo, được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay An Tôn, hoặc Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội). Xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô.

Theo sử liệu, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt với nhà Trần.

Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữa sông Mã và sông Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi.

Trải qua 600 năm, với giá trị lịch sử cùng nghệ thuật kiến trúc độc đáo, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào ngày 27/06/2011.

Quần thể kiến trúc
 

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận: La thành, Hào thành và Hoàng thành. La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4km. Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50m. Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành.

Hoàng thành

Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông, có tổng diện tích khoảng 769.086m2. Chiều bắc - nam dài 870,5m, chiều đông - tây dài 883,5m. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau.

Cổng Tiền (cổng phía Nam) là cổng chính, có ba cửa. Cửa giữa rộng 5,82m, cao 5,75m, hai cửa bên rộng 5,45m, cao 5,35m. Ba cổng còn lại chỉ có một cửa. Tường thành cao trung bình 6-7m, chỗ cao nhất là cổng Tiền cao 10m.

Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402.

Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các phiến đá dài trung bình 1,5m, có tấm dài tới 6m, trọng lượng ước nặng 24 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu.

Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững. Qua hơn 600 năm cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong khoảng 3 tháng.

Theo sử sách, trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng... rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long.

Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy. Những dấu tích nền móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng.

La thành

La thành là vòng thành ngoài cùng của Thành nhà Hồ, nằm ở phía hữu ngạn sông Bưởi (ở phía đông) và sông Mã (ở phía tây) có chu vi khoảng hơn 4km, được nhà Hồ cho đắp đất kết hợp với việc trồng tre gai. Đây là vòng thành nhân tạo phía ngoài có nhiệm vụ bảo vệ cho Hoàng thành vốn đã rất vững chãi và bề thế.

Toàn bộ La thành được đào đắp dựa theo địa hình tự nhiên, có đoạn thì nối liền với núi đá, lấy núi đá làm bức tường thành thiên nhiên hùng vĩ, có đoạn thì nương theo các dòng sông. Sự kiên cố, cấu trúc lũy thành với mặt ngoài thẳng đứng, phía trong thoai thoải cho thấy rõ tính chất phòng vệ quân sự của La thành. Mặt khác La thành cũng triệt để nối các quả núi tự nhiên như núi Voi, núi Đốn, nhiều đoạn chạy theo thế uốn của sông Bưởi và sông Mã mang thêm chức năng làm đê phòng lũ lụt cho toàn bộ kinh thành. Đây cũng là truyền thống đắp thành của người Việt đã từng hiện diện ở các di tích như thành Cổ Loa (Hà Nội), thành Hoa Lư (Ninh Bình), thành Thăng Long (Hà Nội).

La thành hiện còn là một tòa thành đất cao khoảng 6m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,20m, chân thành rộng khoảng 37m. Mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải kiểu bậc thang, mỗi bậc cao 1,50m, một số vị trí có trộn thêm sạn sỏi gia cố. Đất đắp La thành là các loại đất sét màu vàng, màu xám hoặc xám xanh có lẫn các đá sạn.

Đàn tế Nam Giao

Để hoàn thiện cho việc định đô của vương triều, năm 1402, nhà Hồ đã cho xây dựng đàn tế Nam Giao ở Đốn Sơn. Chữ “Giao” có nghĩa là lễ tế trời ở vùng phía nam kinh thành. Vì vậy, lễ tế này thường gọi là lễ tế Nam Giao, nơi thực hiện nghi lễ này gọi là đàn Nam Giao. Đây là nơi hàng năm vương triều Hồ tiến hành lễ tế trời, cầu cho quốc thái, dân an hoặc vào những dịp đại xá thiên hạ.

Đàn Nam Giao tọa lạc trong lòng tay ngai Đốn Sơn (còn gọi là núi Đún). Ngày nay thuộc địa giới hành chính xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, cách thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía đông nam. Đàn Nam Giao được xây dựng năm 1402 dưới thời vua Hồ Hán Thương, sách Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi: “Nhâm Ngọ 1402, tháng 8, Hán Thương sai đắp đàn Nam Giao ở núi Đốn Sơn để làm lễ tế Giao; đại xá thiên hạ. Ngày hôm tế, Hán Thương ngồi trên kiệu Vân Long do cửa nam đi ra”.

Đàn Nam Giao có diện tích khoảng hơn 2ha, lưng tựa Đốn Sơn, tiền án là “cánh đồng Nam Giao”.

Dấu tích kiến trúc còn lại là các cấp nền bao (nền Thượng, nền Trung, nền Hạ). Vật liệu kiến trúc chính để xây dựng đàn là đá xanh và đất nung (gạch, ngói,…).

Dấu tích con đường linh đạo được lát bằng những phiến đá xanh mài nhẵn, mà theo truyền thuyết trước kia vua đi trên con đường này để vào khu vực tế chính.

Các cửa bằng đá ở các phía của đàn có hình bán nguyệt; hệ thống cống thoát nước ở các dãy tường có chức năng thoát nước từ bên trong khu vực tế ra bên ngoài cũng như hạn chế được sự xói mòn và sụt lở của các đoạn tường.

Giếng Vua

Đặc biệt, công trình kiến trúc hết sức độc đáo và được bảo tồn khá nguyên vẹn trong quần thể Thành nhà Hồ là Giếng Vua. Giếng Vua hay còn gọi là Ngự Dục, Ngự Duyên có hình vuông, được kè đá theo các cấp bậc nhỏ dần vào lòng, mỗi bậc có chiều cao khoảng 20cm, rộng khoảng 20cm, cạnh lớn nhất hiện thấy dài 14cm. Ở độ sâu khoảng 10m so với nền đàn trung tâm, các nhà khảo cổ đã tìm ra mạch nước của giếng cổ. Ngoài ra du khách còn được nghe dân gian xung quanh vùng kể về những địa danh như: Dọc Bái, Dọc Sen,…tương truyền trước kia khi tế lễ, dân chỉ được đứng ở phía xa để bái vọng.

Vùng đệm xung quanh Thành nhà Hồ
 

Nhóm di tích phụ cận là di sản thiên nhiên

Thắng cảnh núi

1. Núi Đốn Sơn (còn gọi là núi Đún): thuộc địa phận xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía đông nam. Núi có hai đỉnh cao 71m và 49m so với mực nước biển. Sườn núi phía đông có Đàn tế Nam Giao và giếng cổ Ngự Duyên (còn gọi là Ngự Dục). Núi Đốn Sơn là nơi diễn ra lễ Minh Thệ của nhà Hồ vào năm 1399, với sự kiện Trần Khát Chân và tôn thất, quý tộc nhà Trần mưu giết Hồ Quý Ly, hiện còn đền thờ Trần Khát Chân ở phía đông bắc của núi này. Núi Đốn Sơn được xem là “Tiền án” theo thuyết phong thủy đối với Hoàng thành.

2. Núi Thổ Tượng (tên gọi khác là núi Voi): thuộc địa phận giáp ranh của 3 xã Vĩnh Yên, Vĩnh Quang và Vĩnh Long, cách Thành nhà Hồ khoảng 1,5km về phía tây bắc, đỉnh cao 117m so với mực nước biển. Quan sát từ xa núi có hình dáng như một con voi nên dân gian gọi là núi Voi. Núi Thổ Tượng được xem là “Hậu chẩm” theo thuyết phong thủy đối với Hoàng thành.

3. Núi An Tôn: thuộc địa phận xã Vĩnh Yên (vào thời Trần có tên là động An Tôn), cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía tây. Núi có hai đỉnh cao nhất là 122m và 114m so với mực nước biển. Nhiều giả thuyết và tư liệu cho biết đá xây dựng Thành nhà Hồ được khai thác tại dãy núi này.

4. Núi Eo Lê: thuộc địa phận xã Vĩnh Quang, cách Thành nhà Hồ khoảng 3km về hướng tây bắc. Núi nằm ở vị trí giáp ranh giữa huyện Vĩnh Lộc và huyện Cẩm Thuỷ.

5. Núi Cẩm Viên: thuộc địa phận xã Vĩnh Ninh, cách Thành nhà Hồ khoảng 3,5km về phía đông nam, bao gồm nhiều núi nhỏ: núi Xuân Đài, Trác Phong, Tiến Sĩ, núi Thọ Vực, núi Đường Làn. Cẩm Viên là dãy núi đẹp với kết cấu đá phân lớp nằm ngang kiểu “chồng mâm”, rất hiếm thấy ở các nơi khác của Việt Nam. Nhiều giả thuyết và tư liệu cho biết đá xây dựng Thành nhà Hồ cũng được khai thác tại dãy núi này. Dưới chân núi Cẩm Viên có chùa Du Anh, phía trên núi có động Hồ Công được xem là “Nam thiên đệ nhất động”.

Thắng cảnh sông, hồ

1. Sông Mã: sông bắt nguồn từ Điện Biên Phủ chảy qua nước Lào, vào địa phận Thanh Hoá tại huyện Mường Lát, chảy qua các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy rồi xuống huyện Vĩnh Lộc. Tại đây sông Mã chảy qua địa phận các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang bao trọn từ phía tây bắc sang đông nam của vùng đệm. Sử sách cho biết đoạn sông này đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử thời Trần - Hồ với tên gọi là sông Lỗi Giang. Khi xây dựng kinh thành Tây Đô, nhà Hồ đã sử dụng sông Mã là tuyến giao thông đường thuỷ vận chuyển nguyên vật liệu, trao đổi buôn bán, đồng thời là nơi vãn cảnh của vua quan trong triều. Các địa danh như Bến Đá (thôn Thọ Đồn - xã Vĩnh Yên), Bến Ngự (thôn Phú Lĩnh - xã Vĩnh Tiến) và Bến Giáng (làng Giáng - xã Vĩnh Thành) vẫn tồn tại từ thời nhà Hồ cho đến nay. Mặt khác, sông Mã còn được nhà Hồ sử dụng như là tuyến phòng thủ tự nhiên phía ngoài để bảo vệ kinh thành Tây Đô.

2. Sông Bưởi: là phụ lưu của sông Mã có chiều dài khoảng 130km, bắt nguồn từ tỉnh Hòa Bình vào tỉnh Thanh Hóa qua huyện Thạch Thành rồi đổ vào sông Mã tại khu vực xã Vĩnh Khang phía nam Thành nhà Hồ. Sông còn có tên gọi khác là sông Bảo, sông Bái Giang. Sông Bưởi chảy qua địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Thành, Vĩnh Phúc, Vĩnh Khang ôm trọn phía đông nam vùng đệm. Giống như sông Mã, sông Bưởi cũng được nhà Hồ sử dụng làm tuyến phòng ngự tự nhiên phía ngoài để bảo vệ kinh thành Tây Đô.

3. Mau An Tôn: còn có tên khác là hồ Mỹ Đàm, hồ Mỹ Xuyên hay Mau Rẹ hiện thuộc cánh đồng làng Mỹ Xuyên và làng Phú Yên, xã Vĩnh Yên, cách Thành nhà Hồ khoảng 1,5km về hướng tây bắc. Theo sử sách, nhà Hồ đã đào đoạn sông này với mục đích mở đường thuỷ nối liền giữa thành Tây Đô với sông Mã. Ngày nay mau An Tôn còn bảo tồn chiều dài khoảng 2km, rộng 100m, tập trung đa dạng nhiều loài sinh vật.

Thắng cảnh hang động

Hệ thống núi đá trong vùng đệm được xem như một “Hạ Long trên cạn”, trong đó các núi đá vôi tạo ra nhiều hang động tự nhiên kỳ thú và cùng với thời gian các hang động này trở thành những thắng tích độc đáo có liên quan đến lịch sử của triều nhà Hồ. Tiêu biểu như:

1. Động Hồ Công: nằm trên núi Xuân Đài, xã Vĩnh Ninh, cách Thành nhà Hồ khoảng 4,5km về hướng tây nam. Tương truyền động Hồ Công chính là nơi luyện thuốc tu tiên của thầy trò Hồ Công và Đồng Tử. Cảnh sắc núi sông hòa quyện, hang động kỳ ảo nên từ xưa động được mệnh danh là “Nam thiên tam thập lục động, Hồ Công đệ nhất” (Ba mươi sáu động của nước Nam, động Hồ Công là nhất). Động nằm ở độ cao khoảng 50m - 60m so với đồng bằng. Nhiều bậc tao nhân trong lịch sử đã đến tham quan và đề thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây, trong đó tiêu biểu như vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Tĩnh Vương Trịnh Sâm… Hiện còn khoảng 20 di văn Hán khắc trên vách động. Đây là một di sản văn hoá vô cùng quý giá góp phần tạo nên một “Hồ Công đệ nhất”.

2. Hang Nàng: nằm trên núi An Tôn thuộc làng Yên Tôn Thượng, xã Vĩnh Yên, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5 km về hướng tây bắc. Hang còn có tên gọi là động Ngọc Thanh, nằm ở độ cao khoảng 20m so với đồng bằng. Theo truyền thuyết, hang là nơi Hồ Quý Ly giam giữ vua Trần Thiếu Đế và hai nàng hầu.

3. Động Eo Lê: nằm trên núi Eo Lê thuộc địa phận xã Vĩnh Quang, cách Thành nhà Hồ khoảng 3,5 km về hướng tây bắc. Động còn có tên gọi khác là Lê Sơn động, độ cao khoảng 50m so với đồng bằng. Phía dưới là sông Mã uốn lượn. Ngoài cảnh sắc đẹp của hang động, nơi đây còn lưu giữ các truyền thuyết về nghĩa quân Lam Sơn đánh giặc Minh (Trung Quốc) vào đầu thế kỷ 15.

Nhóm di tích phụ cận là di sản văn hoá vật thể

Chùa

1. Chùa Giáng: có tên chữ là Tường Vân tự, thuộc xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía đông nam. Chùa được xây dựng dưới chân núi Đốn Sơn vào thời vua Trần Duệ Tôn (1372 - 1377). Tổng thể kiến trúc chùa hiện khoảng 2ha, bao gồm các dãy nhà riêng biệt nằm trên 2 tầng thế đất khác nhau, đó là: nhà Tứ Ân, nhà Phật điện, nhà Mẫu, nhà Điêu túc. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 2009.

2. Chùa Nhân Lộ: còn có tên là chùa Giò, tên chữ là Phúc Long tự, thuộc địa phận xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ 2,5km về phía tây nam. Chùa nằm trong vùng cảnh quan tươi đẹp bên bờ sông Mã. Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng vào thời Trần, phục vụ tín ngưỡng của quan lại và binh lính trong thành Tây Đô. Ngày nay, trong chùa còn giữ được một số hiện vật có giá trị như: tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, 2 bản sắc phong triều Nguyễn. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1992.

3. Chùa Du Anh: có tên gọi khác là chùa Thông, được xây dựng dưới chân lèn đá phía tây núi Xuân Đài, cách Thành nhà Hồ khoảng 4,5km về phía tây nam thuộc địa phận xã Vĩnh Ninh. Tương truyền công chúa Du Anh (thời Trần) đi du ngoạn, thấy cảnh núi sông nơi đây hữu tình đã cho xây dựng chùa vào năm 1270 và lấy tên mình đặt tên chùa. Hiện nay, trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị thời Trần (thế kỷ 14) như: sư tử đá, nghê đá, voi đá. Đặc biệt là bia đá 4 mặt được tạc từ đá gốc nguyên khối do trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan soạn văn bia ghi việc trùng tu chùa năm 1606, đời vua Lê Kính Tông. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 2009.

4. Chùa Linh Giang: cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía tây nam, thuộc thôn Phú Lĩnh, xã Vĩnh Tiến. Chùa nằm bên cạnh Bến Ngự sông Mã, nơi vua quan triều Trần - Hồ du ngoạn và ngắm cảnh. Chưa có tài liệu xác định niên đại khởi dựng chùa. Theo tư liệu tại chùa, trong chiến tranh Trịnh - Mạc (thế kỷ 17-18) chùa bị hư hỏng nhiều, đến cuối thời Nguyễn được trùng tu lại. Năm 1995, chùa được tiếp tục tu bổ, tôn tạo có diện tích là 336,6m2 với 3 gian thờ: Tam Bảo Phật, phủ Mẫu và nhà thờ Tổ. Trải qua thời gian, chùa có nhiều thay đổi nhưng kiến trúc của phủ Mẫu vẫn lưu giữ nét cổ: toàn bộ hệ thống khung nhà, khung cửa được liên kết bằng những phiến đá. Phần bậu cửa cũng làm bằng đá xanh liền tấm tạo nên vẻ đẹp khoẻ khoắn, vững chãi. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 2000.

Đền

1. Đền Trần Khát Chân: thuộc địa phận thôn Cao Mật, xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía đông nam. Đền được xây dựng ở sườn đông bắc núi Đốn Sơn vào thế kỷ 16, thờ Đức Thánh Lưỡng - Thượng tướng Trần Khát Chân, vị tướng có nhiều công lao đánh giặc dưới thời nhà Trần và có công xây dựng kinh thành Tây Đô (thời Hồ). Ngày nay, di tích vẫn còn giữ được nhiều văn bản Hán Nôm cổ (hơn 20 bản sắc phong, các hoành phi, câu đối) và các đồ thờ bằng gỗ đặc biệt có giá trị. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 2001.

2. Đền Bình Khương: thuộc địa phận thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long, nằm sát tường phía đông nội thành của Thành nhà Hồ. Đền là nơi thờ nàng Bình Khương, phu nhân của Cống sinh Trần Công Sỹ, một trong những người chỉ huy xây dựng tường thành phía đông của thành Tây Đô. Đền có diện tích 600m2, kiến trúc gồm tiền đường và hậu cung. Hiện nay trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: phiến đá – kiêm thần vị thờ nàng Bình Khương, bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Vương Duy Trinh soạn ghi sự tích Bình Khương và Cống Sinh; bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Phan Hữu Nguyên soạn ghi nội dung ca tụng Bình Khương và bia trùng tu miếu Bình Khương dựng năm Bảo Đại thứ 5 (1930). Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1995.

3. Đền Tam Tổng: thuộc địa phận làng Xuân Giai, xã Vĩnh Tiến, cách Thành nhà Hồ khoảng 400m về phía nam. Sau Hội thề Đốn Sơn (1399), Trần Khát Chân mất, nhân dân nhiều nơi thương tiếc lập đền thờ ông. Ba tổng: Bỉnh Bút, Cao Mật, Hồ Nam thuộc huyện Vĩnh Lộc xưa tôn ông làm Thành hoàng chung. Hàng năm lễ lội đền Tam Tổng diễn ra vào ngày 24/4 âm lịch, có nhiều trò diễn mô tả văn hoá truyền thống của vùng đất kinh đô xưa. Khu vực đền có diện tích 1500m2, lần trùng tu, tôn tạo gần đây nhất là năm 2005. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1992.

4. Đền Hà Lương: thuộc địa phận thôn Hà Lương, xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ 3,5km về hướng tây nam. Đền phối thờ các vị thần là người sinh ra ở làng Hà Lương như: Trần Khát Chân, Lưu Hưng Hiếu. Theo thần tích làng Hà Lương, đền được xây dựng từ lâu đời,về sau đổ nát, di tích hiện nay đã được trùng tu, tôn tạo vào những năm 1990. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1998.

5. Đền Phạm Đốc: thuộc địa phận làng Thổ Phụ, xã Vĩnh Tiến, cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía tây nam. Đền thờ Tĩnh Quốc Công Phạm Đốc - một nhân vật lịch sử đã có công lao to lớn, khôi phục sự nghiệp của nhà Lê ở thế kỷ 16. Tại di tích còn lưu giữ tấm bia đá có niên đại năm 1558 ghi chép thân thế và sự nghiệp của tướng quân Phạm Đốc. Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 1998.

Đình

1. Đình Yên Tôn Thượng: thuộc địa phận thôn Yên Tôn Thượng, xã Vĩnh Yên, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về hướng tây. Tọa lạc dưới chân núi An Tôn, phía trước là sông Mã. Đình có lịch sử lâu đời, kiến trúc hiện còn đại đình và hậu cung theo kiểu chữ Đinh (T) được trùng tu vào thời Nguyễn năm Thành Thái thứ 11 (1899). Theo thần tích và sắc phong lưu giữ ở đình cho biết thần Cao Sơn và Quản Gia đô bác được thờ tại đây. Đình được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc cấp tỉnh năm 2002.

2. Đình Đông Môn: nằm cách cổng đông Thành nhà Hồ khoảng 150m về phía đông, thuộc làng Đông Môn, xã Vĩnh Long. Đây là ngôi đình lớn, niên đại thời Nguyễn (thế kỷ 19), và có giá trị nghệ thuật cao. Tại ngôi đình còn lưu giữ một số hiện vật liên quan đến di tích Thành nhà Hồ và nhiều sinh hoạt truyền thống gắn với ngôi làng cổ của kinh đô xưa. Từ năm 2007 đến năm 2009 đình được trùng tu, tôn tạo. Đình được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc cấp tỉnh năm 1992.

3. Đình Tây Giai: thuộc địa phận làng Tây Giai, xã Vĩnh Tiến, cách cổng tây Thành nhà Hồ 400m. Được xây dựng thời Nguyễn dưới triều vua Tự Đức năm 1835 và hiện chỉ còn phần hậu cung với diện tích 106m2. Đình được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2001.

4. Đình Phù Lưu: nằm trên địa bàn làng Phù Lưu, xã Vĩnh Yên, cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về hướng tây bắc. Được xây dựng thời Nguyễn, dưới triều vua Tự Đức năm 1850. Đình Phù Lưu được dựng trên khu đất rộng, thoáng với diện tích 188m2, gồm 5 gian có kết cấu tương đối cân xứng nhau, mặt tiền quay về hướng nam. Đình thờ Thành hoàng làng Phù Lưu là Cao Sơn tôn thần. Kiến trúc đình còn lưu giữ nhiều mảng chạm nghệ thuật điêu khắc gỗ. Đình được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2006.

Làng cổ

Trong khu vực đệm của di sản Thành nhà Hồ cho đến ngày nay còn tồn tại nhiều làng cổ, có lịch sử đồng đại hoặc lịch đại so với sự ra đời và tồn tại của vương triều Hồ và kinh thành Tây Đô, ở cuối thế kỷ 14 - đầu thế kỷ 15.

1. Làng Tây Giai: nằm ở phía tây Thành nhà Hồ. Đây là ngôi làng cổ gắn liền với sự ra đời của Thành nhà Hồ. Ngày nay, tại làng vẫn còn những địa danh gắn với kinh đô xưa như chợ Tây, đường Cống Đá…

2. Làng Xuân Giai: nằm ở phía nam Thành nhà Hồ. Đây là ngôi làng cổ gắn liền với sự ra đời của Thành nhà Hồ. Ngày nay, trong làng vẫn còn những địa danh gắn với vùng đất kinh đô xưa như đường Hoa Nhai, bãi Chuối Khô, gò Ngục, đồng Bái Đàn…

3. Làng Đông Môn: nằm gần tường thành phía đông của Thành nhà Hồ. Đây là ngôi làng cổ gắn liền với sự ra đời của Thành nhà Hồ. Làng Đông Môn có dân cư tụ cư lâu đời.

4. Làng Trác: thuộc xã Vĩnh Long, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía đông, trên bờ hữu sông Bưởi. Làng có lịch sử lâu đời, gắn với vùng đất Tây Đô, hiện vẫn còn lưu truyền rất nhiều truyền thuyết liên quan đến vương triều Hồ. Đặc biệt, trong lòng đất làng Trác các nhà khảo cổ học còn phát hiện được các di vật cho biết vùng đất này từ thời đại Văn hóa Đông Sơn, cách nay hơn 2000 năm đã hình thành các làng Việt cổ.

5. Làng Cổ Điệp: thuộc xã Vĩnh Phúc, cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía đông nam. Đây là làng cổ, có lịch sử lâu đời, gắn với sự ra đời của vùng đất kinh đô cổ.

6. Làng Xoài: thuộc xã Vĩnh Phúc, cách Thành Nhà Hồ khoảng 1,8km về phía đông nam (gần làng Cổ Điệp). Cũng như làng Cổ Điệp, đây là làng cổ, có lịch sử lâu đời, gắn với sự ra đời của vùng đất kinh đô cổ.

7. Làng Bái Xuân: thuộc xã Vĩnh Phúc, cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía đông nam. Làng được thành lập cùng với việc xây thành. Tương truyền đây là nơi trồng hoa phục vụ triều đình nên còn có tên gọi là làng Bái Xuân Hoa.

8. Làng Cao Mật: còn có tên gọi khác là làng Giáng, thuộc xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ 2,5km về hướng nam, làng có lịch sử hình thành rất sớm cùng với quá trình xây dựng kinh đô nhà Trần - Hồ. Tại đây còn bảo lưu trò diễn “bơi chèo cạn” mô tả trận đánh của Tướng quân Trần Khát Chân với quân giặc Chiêm.

9. Làng Cẩm Hoàng: thuộc xã Vĩnh Quang, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía tây bắc. Hai làng Giáp Hạ và Thái Thôn được thành lập vào cuối thế kỷ 14, cùng thời gian Hồ Quý Ly xây dựng kinh thành. Sau đó hai làng này hợp nhất thành làng Cẩm Hoàng ở phía bắc kinh thành.

10. Làng Yên Tôn Thượng: thuộc xã Vĩnh Yên, cách Thành nhà Hồ 2,5km về phía tây bắc. Đây là làng cổ ra đời từ trước sự ra đời của Thành nhà Hồ. Làng có địa thế tuyệt đẹp, lưng dựa vào núi An Tôn, mặt hướng ra sông Mã.

11. Làng Thọ Đồn: thuộc xã Vĩnh Yên, cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía tây nam. Theo lịch sử làng, sau thất bại của nhà Hồ trong cuộc chống quân Minh, một bộ phận binh lính của nhà Hồ đã lưu lại vùng đất này để sinh cơ lập nghiệp. Nơi đầu tiên mà binh lính ở lại lập làng là Thọ Sơn Trang, vốn trước là trang trại của quân lính nhà Hồ đồn trú.

12. Làng Thổ Phụ: thuộc xã Vĩnh Tiến, có tên cổ là làng Thổ Sơn, cách Thành nhà Hồ khoảng 2km về phía tây nam (nằm bên bờ sông Mã). Nơi đây vẫn lưu truyền nhiều truyền thuyết về Thành nhà Hồ với các địa danh như bến Quân, gò Cồn Ngựa.

13. Làng Nhân Lộ: thuộc xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ khoảng 2,5km về phía tây nam (gần làng Thổ Phụ). Đây là làng cổ có truyền thống hiếu học lâu đời. Hiện nay trong làng còn nhiều địa danh cổ gắn với vùng đất kinh đô xưa như: vườn Hồng, ao Mái, cồn Quýt, cồn Sấm.

14. Làng Hà Lương: thuộc xã Vĩnh Thành, cách Thành nhà Hồ 3,5 km về phía tây nam, nằm bên tả ngạn sông Mã. Đây là quê hương của tướng quân Trần Khát Chân và Thám hoa Lưu Hưng Hiếu (đỗ khoa Tân Sửu, năm thứ 12, đời vua Lê Thánh Tông - 1471). Hai nhân vật này được nhân dân thờ làm Thành hoàng ở đình làng.

Kiến trúc nhà cổ

Nhà cổ gia đình ông Phạm Ngọc Tùng: thuộc làng Tây Giai, xã Vĩnh Tiến, cách cổng tây Thành nhà Hồ 200m về phía tây. Ngôi nhà này được xây dựng năm 1810, về mặt kiến trúc nhà cổ đã được UNESCO công nhận là một trong 10 nhà cổ dân gian tiêu biểu nhất của Việt Nam. Năm 2002 tổ chức JICA của Nhật Bản đầu tư kinh phí nghiên cứu, bảo tồn, trùng tu di tích này. Ngoài nhà cổ ông Phạm Ngọc Tùng, trong các làng cổ ở khu vực đệm còn bảo tồn rất nhiều nhà cổ truyền thống (hiện là nhà ở của nhân dân), có niên đại thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20.

Nhà thờ

Nhà thờ Thiên Chúa Giáo thuộc làng Nhân Lộ, cách Thành nhà Hồ 2,5km về hướng tây nam. Nhà thờ do linh mục Liên xây dựng năm 1866 và lấy tên là nhà thờ Xứ Nhân Lộ. Năm 1877, linh mục Châu chủ trì kiến tạo lại nhà thờ. Năm 1881, nhà thờ được khánh thành với quy mô khang trang hơn trước. Năm 1998, nhà thờ được trùng tu như hiện nay.

Các di chỉ khác

1. Đường Hoa Nhai: được nhà Hồ cho xây dựng nối từ Thành nhà Hồ đến Đàn Tế Nam Giao (núi Đốn Sơn) năm 1402. Đường có chiều rộng khoảng 4,5m được xây dựng bằng những phiến đá xanh lớn. Năm 2008, cuộc khai quật khảo cổ học trước cổng nam Thành nhà Hồ đã xuất lộ một phần kiến trúc con đường này.

2. Đường Cống Đá: nay thuộc thôn Thọ Đồn, xã Vĩnh Yên chạy về thôn Tây Giai xã Vĩnh Tiến. Con đường này, theo truyền thuyết của nhân dân, bắt đầu từ khu vực bến Đá sông Mã chạy thẳng đến cửa tây Thành nhà Hồ. Khảo sát dọc tuyến đường, hiện vẫn thấy một số phiến đá nằm rải rác hai bên con đường. Điều này cho thấy khả năng con đường còn được bảo lưu dưới nền đường hiện tại.

Ngoài ra, theo sử sách ghi chép, một số di chỉ khác như: Đàn thề ở khu vực núi Đốn Sơn; Đàn Xã Tắc, chợ Khả Lãng… tuy nhiên, hiện nay chưa xác định chính xác vị trí cũng như quy mô kiến trúc.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt