<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Trảng Bàng

Vị trí

Huyện phía Bắc kênh Trảng Bàng, nằm về phía Đông Nam tỉnh Tây Ninh, ở vị trí trung điểm của quốc lộ 22, trên đường từ Gò Dầu đi thành phố Hồ Chí Minh, cách thị xã Tây Ninh 47 km, Hóc Môn 31 km, Củ Chi 16 km. Có đường biên giới Việt Nam – Campuchia dài 14km. Phía Đông huyện giáp thành phố Hồ Chí Minh, Tây giáp Campuchia, Nam giáp Long An, Bắc giáp Bến Cầu, Gò Dầutỉnh Bình Dương.

Thông tin sơ lược

Diện tích: 337,8 km2

Dân số: 139400 người.

Mật độ: 413 người /km2.

Huyện lị: thị trấn Trảng Bàng.

Huyện gồm thị trấn Trảng Bàng và 10 xã: Đôn Thuận, Lộc Hưng, Gia Lộc, Gia Bình, Phước Lưu, Bình Thạnh, An Tịnh, An Hoà, Phước Chỉ, Hưng Thuận.

Lịch sử

Dưới triều Nguyễn, phủ Tây Ninh thuộc tỉnh Gia Định, có 2 huyện Tân Ninh và Quang Hoá. Đất Trảng Bàng ngày nay thuộc huyện Quang Hoá. Năm 1867, Nam kỳ lục tỉnh chia thành 24 khu tham biện. Khu tham biện Quang Hoá có Châu Thành (Trảng Bàng), huyện Quang Hoá và huyện Tân Ninh. Từ đây Trảng Bàng là tên gọi đơn vị hành chính cho đến ngày nay. Năm 1872, hạt Tây Ninh chia thành 2 quận: Thái Bình và Trảng Bàng. Năm 1961, chính quyền Sài Gòn đổi tên quận Trảng Bàng thành quận Phú Đức. Năm 1963, quận Phú Đức tách khỏi tỉnh Tây Ninh để thành lập tỉnh Hậu Nghĩa.

Về phía chính quyền cách mạng, đầu năm 1955, một phần đất phía Bắc huyện Trảng Bàng được tách ra thành lập huyện Gò Dầu. Năm 1960, Gò Dầu lại nhập vào huyện Trảng Bàng. Cuối 1961, lại tách khỏi huyện Trảng Bàng. Năm 1967, huyện Trảng bàng thuộc đặc khu Sài GònChợ Lớn. Đến 1972, Trảng Bàng lại được trả về Tây Ninh.

Điều kiện tự nhiên

Về thổ nhưỡng, huyện có 3 nhóm đất chính. Đất xám chiếm 76,6%, đất phù sa chiếm 2,6%, đất phèn chiếm 20,1%. Khí hậu nóng ẩm quanh năm rất phù hợp với nhiều loại cây trồng.

Về sông ngòi: huyện có 2 sông lớn chảy qua: sông Vàm Cỏ Đông chảy trong phạm vi huyện dài 11,25km, lưu lượng mùa lũ 40m3/giây, lúc kiệt nước 13m3/giây. Sông Sài Gòn chảy qua trong phạm vi huyện dài 23,25km, lưu lượng bình quân 59m3/giây. Các chi lưu của 2 sông này chảy qua huyện như: rạch Gò Suối, rạch Trà Cao, rạch Trảng Bàng, rạch Môn, rạch Cầu Trường Chùa, rất thuận lợi cho thuyền, ghe đi lại quanh năm.

Nước ngầm ở Trảng Bàng khá phong phú, tập trung ở các xã phía Đông. Riêng các xã phía Tây việc khai thác nước ngầm bằng đào giếng còn gặp nhiều khó khăn vì nhiễm phèn và đất dễ sụp lở. Ngày nay, hệ thống giao thông này phục vụ cho sự đi lại và giao lưu hàng hoá của nhân dân trong huyện với các địa phương khác. Hệ thống kênh tưới, kênh tiêu của huyện đang được hoàn thiện.

Kinh tế – xã hội 

  • Về giao thông: huyện có 13 tuyến đường bộ, với tổng chiều dài 104km. Hệ thống đường sông dài 126km. Giữa huyện có quốc lộ 22 từ thành phố Hồ Chí Minh qua thị trấn Trảng Bàng lên Gò Dầuthị xã Tây Ninh. Đường tỉnh 789 từ Bến Củi đi Củ Chi, đường tỉnh 782 từ Bùng Binh qua Bàu Đồn. Ngoài ra, huyện còn có các đường liên huyện, liên xã tạo thành hệ thống đường bộ tương đối thuận lợi.

  • Dân tộc: dân cư trong huyện gồm: dân tộc Kinh, Khơ Me. Dân tộc Kinh là chủ yếu.

  • Tôn giáo: dân cư trong huyện phần lớn theo đạo Công giáo và đạo Phật. Chính vì thế mà ở đây có rất nhiều chùa, đình, miếu và nhà thờ. Đặc biệt có xóm đạo Tha La là vùng dân cư theo Công giáo.

Di tích lịch sử

c nghề thủ công truyền thống

  • Xóm Bánh tráng:  Ở ấp Lộc Du, thị trấn Trảng Bàng, có rất nhiều nhà làm bánh tráng chuyên nghiệp, còn được gọi là “xóm bánh tráng”. Nguồn nguyên liệu làm bánh tráng phơi sương chỉ là bột gạo nhưng phải là bột gạo tẻ đặc biệt. Để làm ra bánh tráng phơi sương người ta phải qua nhiều công đoạn khá công phu và cầu kỳ. Đầu tiên là đem gạo đi vo sạch. Sau đó, phải xay gạo thành bột nước, hoà muối vừa độ, rồi tráng mỏng trên hơi nước sôi và phải tráng làm hai lớp. Bánh chín trải ra vỉ tre phơi, chỉ một ngày nắng tốt là được. Công đoạn tiếp theo là nướng bánh. Lò nướng giống như chiếc nồi Cà om to chứa vỏ đâu phọng riu riu cháy ở bên trong. Bánh tráng nướng nở xốp đều nhưng vẫn giữ nguyên màu giấy trắng… Nướng xong, người ta đem bánh tráng phơi sương vào khoảng tờ mờ sáng hoặc vào ban đêm, nếu nhiều sương chỉ cần phơi mười lăm phút. Phơi xong, đem bọc kín trong lá chuối tươi để giữ cho bánh được mềm, xốp.

  • Xóm đóng ghe: Đặc điểm địa hình của Tây Ninh có nhiều rừng núi, nhưng cũng lắm sông ngòi, kênh rạch nên hoạt động vận chuyển buôn bán trao đổi nông, lâm, ngư, thổ sản từ trước đến nay bằng ghe xuồng trên các tuyến đường thủy đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội  ở Tây Ninh. Vì thế mà nghề đóng ghe xuồng ở Tây Ninh đã hình thành và phát triển rất sớm. Có nhiều trại đóng ghe, xuồng ở Tây Ninh phải kể đến các cơ sở ở thị trấn Trảng Bàng, xã An Hoà, xã Phước Chỉ (Trảng Bàng); xã Long Thành Nam (Hoà Thành); xã Cẩm Giang (Gò Dầu)Nguồn nguyên liệu để đóng ghe xuồng trước đây  được khai thác tại chỗ, với nhiều loại gỗ tốt như gỗ sao, vên vên, căm xe, dầu, trắc …Hiện nay, việc khai thác rừng đã hạn chế, các nguồn nguyên liệu gỗ được bổ sung từ các tỉnh và có cả ở Campuchia. Các loại ghe,  xuồng ở Tây Ninh ngày nay được chế tạo chủ yếu từ các loại gỗ có đặc tính chắc, bền, nhẹ nổi trên nước và ít hư hỏng do tác động của môi trường sông nước. Cư dân Tây Ninh có gốc người tứ xứ… nên ghe xuồng ở  Tây Ninh có nhiều kiểu dáng, phản ánh đặc điểm văn hoá nhiều tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khơme), nhiều địa phương. Nhìn chung, có các loại ghe như: ghe ô, ghe lê dành cho quan lại; ghe tam bản, ghe tam bản mũi chài, ghe chài, ghe tải...Trong vài chục năm gần đây ghe xuồng truyền thống Tây Ninh có xu hướng hiện đại hoá, cải tiến chiếc ghe sao cho phù hợp với điều kiện chuyên chở, đi lại, buôn bán trên sông nước. Ghe xuồng chèo tay thành ghe, xuồng gắn các động cơ, khiến việc di chuyển được thuận lợi nhanh chóng hơn trước. Đây cũng là bước phát triển mới của nghề đóng ghe xuồng ở Tây Ninh.

  • Xóm chằm nón lá: Nghề chằm nón lá ở Tây Ninh đã xuất hiện tương đối khá lâu đời. Ngày nay, có nhiều nơi sản xuất nón lá  được gọi là “xóm nón lá” như ở ấp An Phú, An Hòa  (Trảng Bàng), làng nón lá Ninh Sơn ở thị xã Tây Ninh. Họ làm được tất cả các loại nón: nón Bài Thơ (Huế), nón Bình Định, nón thêu, nón dày, nón thưa, vốn rất nổi tiếng ở miền Trung nhưng ở Tây Ninh không dễ kiếm lá buôn, dây thao, nguyên liệu làm nón Bài Thơ, ngược lại nguồn trúc và lá mật cật lại rất dễ tìm. Người dân Tây Ninh chọn loại lá mật cật là nguyên liệu chính để làm nón. Đây là loại nón thông dụng dành cho người lao động và được sản xuất đại trà để bán hàng gọi là “nón hàng”,  loại nón này khi gặp mưa vẫn thẳng, không bị dúm lại như các loại nón khác. Muốn làm  nón phải có cái khung chằm hình chóp có kích thước bằng chiếc nón lá. Nón làm bằng lá mật cật luộc chín, phơi khô và vuốt thẳng. Người ta xếp từng lá chồng dọc theo khuôn để chằm. Vừa chằm vừa gác các nan tre được chuốt nhỏ, đều và trùm lên khuôn để làm sườn nón lá. Lá mật cật dược kết dính đều đặn tỉ mỉ, khéo léo với vòng nan tre bằng chỉ trong suốt. Hầu hết các phụ nữ ở Ninh Sơn, cũng như ở An Phú, An Hoà đều biết chằm nón từ lúc còn rất nhỏ 5- 6 tuổi. Nón hàng làm nhanh hơn nón dày giá cả nón dày, đắt hơn nón hàng. Nghề chằm nón không giàu nhưng đây là số tiền kiếm được khi bà con tận dụng được thời gian nhàn rỗi của mình và giúp cho những người không có sức khoẻ để làm những việc nặng nhọc có việc làm ổn định. Nón lá vốn là thành phần quan trọng trong trang phục của phụ nữ vùng nông thôn, là nét độc đáo riêng. Dẫu rằng ngày nay phụ nữ có xu hướng theo Âu hoá, nhưng hễ còn người dân ra đồng là còn cần chiếc nón lá.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt