<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Tràng Định

Sơ lược
 

Tràng Định là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lạng Sơn, Tràng Định cách thành phố tỉnh lỵ khoảng 70 km về phía Bắc, theo quốc lộ 4A.

Lịch sử hình thành
 

Tràng Định vốn là phủ thuộc tỉnh Lạng Sơn, sau năm 1945, là huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 27/12/1975, tỉnh Lạng Sơn nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, Thất Khê trở thành huyện của tỉnh Cao Lạng.

Ngày 29/12/1978, tỉnh Lạng Sơn tái lập, Thất Khê trở thành huyện của tỉnh Lạng Sơn và đổi tên thành Tràng Định.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Bắc Tràng Định giáp tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp Trung Quốc; phía Nam giáp huyện Văn LãngBình Gia; phía Tây giáp huyện Nà Rì (tỉnh Bắc Kạn).

Địa hình

Địa hình Tràng Định bị chia cắt mạnh, nhiều núi đất xen kẽ các thung lũng ven sông, suối và thung lũng núi đá vôi. Độ cao trung bình 200 - 500 m, độ dốc trung bình 25 - 300. Trên địa bàn Tràng Định có sông Bắc Khê chảy qua.

Khí hậu

Tràng Định nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 21,60C, lượng mưa trung bình từ 1.155 - 1.600 mm, độ ẩm từ 82 - 84%.

Tài nguyên

Tràng Định có vàng sa khoáng (vùng Bản Trại, Đào Viên), mỏ nước khoáng tự nhiên và đá vôi, cát, sỏi...

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Đất ở Tràng Định chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá sét (chiếm trên 42% diện tích); đất đỏ vàng trên đá magma axít (chiếm trên 28%); đất vàng nhạt trên đá cát (chiếm 3,4%), đất phù sa, đất phù sa sông, suối (chiếm 1,2%); đất dốc tụ (chiếm 1,3%); còn lại là đất nâu đỏ trên đá vôi...

Đất đai ở Tràng Định thích hợp trồng các loại cây ăn quả (quýt, lê, mận), hồi, quế, thạch đen, trám và chăn nuôi gia súc (trâu, bò, lợn). Trên địa bàn Tràng Định có quốc lộ 4A chạy qua.

Văn hoá, xã hội

Tràng Định có 23 đơn vị hành chính gồm thị trấn Thất Khê và 22 xã: Khánh Long, Đoàn Kết, Cao Minh, Vĩnh Tiến, Tân Yên, Tân Tiến, Bắc Ái, Chí Minh, Kim Đồng, Quốc Khánh, Tri Phương, Chi Lăng, Đề Thám, Hùng Sơn, Đại Đồng, Đội Cấn, Tân Minh, Trung Thành, Kháng Chiến, Hùng Việt, Quốc Việt và Đào Viên.

Tràng Định là địa bàn sinh sống của các dân tộc như: Tày, Nùng, Kinh, Dao, H’Mông…

Người Dao có ba loại nhà (nhà sàn, nhà đất, nửa sàn nửa đất); nguyên liệu làm nhà chủ yếu là gỗ, tre, nứa. Người Dao sống bằng nghề trồng lúa và trồng những loại cây hoa màu (ngô, đậu, sắn), cây công nghiệp (quế, hồi, trẩu, thảo quả) và chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê, lợn), gia cầm. Ngoài nghề nông, người Dao còn có một số nghề thủ công như: dệt vải, rèn, làm giấy, ép tinh dầu…

Trang phục của dân tộc Dao là vải bông nhuộm chàm, xanh, đỏ, đen, tím than hoặc trắng.

Tiềm năng du lịch

Ngoài những di tích lịch sử như khu căn cứ cách mạng Chí Minh, Đội Cấn, Hùng Sơn, Chi Lăng, Quốc Khánh, Bông Lau, Đông Khê, Chiến dịch Đường 4, Hang Cóc Mười... Tràng Định còn có lễ hội Bủng Kham (mùng 4 tháng giêng âm lịch hàng năm). Tràng Định cũng là địa phương nổi tiếng với những đặc sản như: lợn quay, vịt quay, mận Thất Khê, lê, quít Kim Đồng.

Mục tiêu

Tràng Định phấn đấu đến năm 2010, chuyển từ khai thác rừng tự nhiên sang đầu tư khai thác rừng nguyên liệu, tăng diện tích rừng hồi lên 2.500 - 3.000 ha, rừng nguyên liệu giấy lên 270 - 300 ha. Giá trị các ngành dịch vụ tăng khoảng 14% (trong đó ngành thương nghiệp sửa chữa tăng khoảng 15%, ngành vận tải kho bãi tăng khoảng 13%, bưu chính - viễn thông tăng khoảng 19%); kim ngạch xuất khẩu tăng 14% và kim ngạch nhập khẩu tăng 13% (kim ngạch xuất khẩu đạt 2.000 nghìn USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 1.600 nghìn USD). Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ trên địa bàn đạt khoảng 100 - 150 tỷ đồng, bình quân lương thực đạt 520 kg/người/năm.

Tràng Định cũng phấn đấu hạ tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (dưới 5 tuổi) xuống dưới 20%, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 85%, 100% xã có điện lưới quốc gia, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 5% và không còn hộ đói.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt