<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử

   

Tổng quan

Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là một trong những ngôi thiền viện đầu đàn của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, cũng gọi là Trúc Lâm Yên Tử. Đây là dòng thiền thuần Việt do vua Trần Nhân Tông sáng lập nên hồi thế kỷ thứ XIII. Chùa tọa lạc dưới chân núi Yên Tử, thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, còn gọi là chùa Lân hay chùa Long Động.

Lịch sử Thiền phái Trúc Lâm

Trúc Lâm Yên Tử ( ) là một dòng thiền Việt Nam đời nhà Trần, do Trần Nhân Tông sáng lập. Trúc Lâm là tự hiệu của vua Trần Nhân Tông (1279-1293), húy là Khâm, con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông. Ông có chí tu hành từ nhỏ. Năm 16 tuổi đã xin với vua cha được nhường ngôi thái tử lại cho em trai, nhưng vua cha không đồng ý. Khi đã lên làm vua, ban ngày Nhân Tông bàn chính sự, ban đêm gõ mõ tụng kinh. Nhà vua thường cùng các cao tăng đương thời như Huyền Quang, Lý Đạo Tái thăm thú núi Yên Tử, nghe giảng Phật pháp. Năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai là Thuyên (Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng. Năm năm sau lên núi Yên Tử, tu ở am Ngọa Vân, lấy tự hiệu là Trúc Lâm đại sĩ, ngày đêm lo việc tu hành. Sau đó ông bị bệnh và mất, thọ 51 tuổi. Lúc đưa nhục thân lên thiền ở hỏa đàn, thu được 300 viên xá lỵ (phần cốt còn lại sau khi thiêu xác).

Qua 8 năm xuất gia tu hành, nhà vua đã sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sau này, Hoà thượng Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm Thích Thanh Từ chủ trương khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, trên cơ sở dung hợp các phái Thiền Tỳ Lưu Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Lâm Tế. Đây chính là Thiền Tông nước ta, một bộ phận của Phật giáo Việt Nam với bản sắc văn hóa và phong tục tập quán Việt Nam. Tinh thần của dòng Thiền Trúc Lâm là: Tự lực, tự chủ, đoàn kết dân tộc, hòa nhập cuộc sống với tâm thức được trở về nội tâm thanh tịnh.

Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Sau ba vị Tổ nói trên, hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ không bị gián đoạn bởi vì đến thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (1600-1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị Thiền sư của Trúc Lâm Yên Tử như Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm và nổi bật nhất là Thiền sư Minh Châu Hương Hải (theo Nguyễn Hiền Đức).

Sau một thời gian ẩn dật, dòng thiền này sản sinh ra một vị Thiền sư xuất sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm. Trong thế kỉ thứ 17-18, thiền phái này được hoà nhập vào tông Lâm Tế và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Đăng.

Từ khi vua Gia Long thống nhất đất nước, lập ra triều đình nhà Nguyễn (1802), triều đình học theo tổ chức triều đình nhà Thanh, từ hành chánh, quân sự, ngoại giao, … đều rập khuôn theo nhà Thanh. Phật giáo Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rập khuôn này, và Thiền tông Việt Nam cũng bị gián đoạn ngót gần 2 thế kỷ. Mãi đến năm 1993, Hoà thượng Thích Thanh Từ mới khôi phục lại và cho xây dựng thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.

Hệ thống truyền thừa của thiền phái Trúc Lâm (trích trong Đại nam thiền uyển truyền đăng lục (大南禪苑傳燈錄), được Thiền sư Phúc Điền (福田) đính bản):

  • Trần Nhân Tông

  • Pháp Loa

  • Huyền Quang

  • An Tâm (安心);

  • Phù Vân Tĩnh Lự (浮雲靜慮);

  • Vô Trước (無著);

  • Quốc Nhất (國一);

  • Viên Minh (圓明);

  • Đạo Huệ (道惠);

  • Viên Ngộ (圓遇);

  • Tổng Trì (總持);

  • Khuê Sâm (珪琛);

  • Sơn Đăng (山燈);

  • Hương Sơn (香山);

  • Trí Dung (智容);

  • Huệ Quang ( );

  • Chân Trụ (真住);

  • Vô Phiền (無煩).

Lịch sử ngôi chùa

Trong bài phát biểu thông báo khởi công xây dựng Trúc Lâm Yên Tử đọc ngày 1/2/2002, Hoà thượng Thích Thanh Từ cho biết: "....Chúng tôi khi lập các thiền viện, ban đầu chúng tôi còn phân vân, chưa biết phải làm sao đặt một nền tảng cho vững, để ngôi nhà Phật giáo Việt Nam được lâu bền, cho nên khi lập Chân Không, rồi lập các thiền viện này, tôi chưa có đề cập đến Trúc Lâm Yên Tử. Đến khi lên được Đà Lạt, tôi suy nghĩ kỹ, muốn đặt một cái nền cho ngôi nhà vững, thì cái nền Phật giáo Việt Nam phải là thiền Trúc Lâm Yên Tử, vì vậy tôi mới để Thiền viện Trúc Lâm. Tại sao tôi không để Trúc Lâm Yên Tử? Vì tôi đặt nó ở tỉnh Lâm Đồng làm sao để Yên Tử được. Như vậy thì cái nguyện của chúng tôi, muốn làm sao cho thiền Trúc Lâm Yên Tử được sống dậy ở trên đất nước Việt Nam, để làm cái nền vững chắc cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, nhưng tôi chưa có cơ hội.

............

Hôm nay đủ duyên, được những vị trong Ban bảo vệ di tích Yên Tử vào Trúc Lâm thăm, và mời chúng tôi ra Yên Tử hợp tác để xây dựng lại các ngôi chùa, các di tích ở Yên Tử. Khi được mời, tôi than rằng tuổi đã già không thể làm nổi việc lớn, cũng không thể leo được cao, nếu quý vị muốn tôi hợp tác, thì xin cho tôi một di tích nào ở dưới thấp trong quần thể di tích của Yên Tử, tôi có thể lập một thiền viện tại đó. Qua hai ba năm trao đổi qua lại, chúng tôi có làm đơn để xin xây dựng một thiền viện ở dưới chân núi Yên Tử, nhưng chưa được quý vị lưu tâm. Năm này quý vị, từ cấp trên tới cấp dưới đều chú ý, nhưng các vị đồng ý cho chúng tôi xây dựng lại ngôi chùa Lân dưới chân núi Yên Tử còn không để ý đến thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Cho nên vừa rồi chúng tôi phải hai lần chạy ra Bắc để giải thích lý do chúng tôi phải thành lập thiền viện này. Chúng tôi nói rằng, nếu quý ngài có phương tiện xây dựng lại, kiến thiết lại tất cả những di tích ở Yên Tử thì rất tốt, rất đẹp. Nhưng chúng ta nên đặt câu hỏi. Tại sao người Việt Nam lại hành hương núi Yên Tử rất đông? Bởi vì tôi được nghe năm 1992 chỉ có hai vạn người đi hành hương; nhưng năm rồi (năm 2001) đến hai chục vạn người đi hành hương trên núi Yên Tử. Người hành hương đông như vậy thì đương nhiên có một cái gì họ mong mỏi, cái gì họ muốn tìm kiếm. Nếu chúng ta cất chùa, chúng ta xây tháp, làm đường tốt đi lên, nhưng mà lên đó rồi họ thấy được cái gì hay ? Tự nhiên là không có cái gì, chỉ có chùa hình thức. Chính chỗ họ quý là họ muốn tìm lên Yên Tử để thấy được đường lối tu mà chư tổ thời xưa, đã đắc đạo ở đó. Tra cứu lịch sử, tôi thấy cuối đời Lý đầu đời Trần có thiền sư Hiện Quang tu đắc đạo trên núi Yên Tử, dưới Ngài có thiền sư Đạo Viên hay là Viên Chứng đắc đạo; dưới đó nữa có thiền sư Đại Đăng. Những vị đó đều là quốc sư hai triều, triều vua Trần Thái Tông triều vua Trần Thánh Tông. Sau đó có những vị tiếp nối nhưng không được rõ ràng. Hơn nữa, khi vua Trần Nhân Tông đi tu mới lập ra phái Trúc Lâm Yên Tử, thì Ngài là Sơ tổ cũng đắc đạo ở đó, rồi ngài Pháp Loa ngài Huyền Quang cũng đều đắc đạo trên núi Yên Tử. Như vậy thì cái quý báu, cái linh thiêng của Yên Tử là nhờ người tu đắc đạo trên đó, bởi vậy cho nên ngoài Bắc có câu ca dao:

Dù ai quyết chí tu hành
Có lên Yên Tử mới đành lòng tu.

Vì vậy mà ai cũng đổ xô lên, tìm kiếm cái gì cao siêu ở Yên Tử. Nếu ngày nay chúng ta có chùa có tháp, mà không có đường lối tu thì, cái trông đợi của Phật tử không thế nào được thỏa mãn. Cho nên chúng tôi mới xin lập thiền viện Trúc Lâm Yên Tử ở dưới chân núi. Nơi đó sẽ có Tăng hoặc Ni tu theo đường lối Sơ tổ Trúc Lâm, đồng thời những sách vở những bài hay của các ngài trước kia để lại, chúng tôi dịch ra giảng giải cho mọi người. Ai muốn cần biết, thì tới chúng tôi cho đọc để biết, ai cần học tu chúng tôi chỉ cho tu. Như vậy mới làm sống nổi được tinh thần Trúc Lâm Yên Tử, đó là nguyện vọng của chúng tôi.

Đến nay được các vị ở tỉnh Quảng Ninh, đồng ý cho tôi thành lập một thiền viện Trúc Lâm Yên Tử tại chùa Lân, ngày 19 tháng giêng là ngày chúng tôi đặt đá. Tôi tuổi già rồi, làm một năm nữa là nghỉ, thành ra phải làm sao trong một năm này - đầu năm là đặt đá cuối năm là khánh thành, thì tôi mới xong bổn nguyện của tôi.

Vì vậy hôm nay, tôi cũng báo cho quý Tăng Ni, quý Phật tử biết rõ nguyện vọng của tôi, là mình phải làm sao sống dậy cái nền Phật giáo Việt Nam từ Trúc Lâm Yên Tử, nếu mình chỉ ở trong Nam ở miền Trung thì đó mới là ngọn ngành; đến tận núi Yên Tử chúng ta lập một thiền viện, thì đó mới là tột gốc. Bản hoài ấy đến đây cũng sắp được thỏa mãn, vậy báo tin cho tất cả Tăng Ni Phật tử hiểu biết rõ ràng về chủ trương của chúng tôi."

Trên tinh thần đó, ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 14/12/2002, thiền viện Trúc Lâm Yên Tử đã được chính thức làm lễ khánh thành, thời gian xây dựng chỉ kéo dài trong vòng 3 tháng.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt