<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Huỳnh Đức

Danh tướng Nguyễn Huỳnh Đức nguyên tên là Huỳnh Tường Đức, có tài liệu cho rằng ông tên thật là Huỳnh Công Đức. Ông là người tài đức, văn võ song toàn, có công mở mang và phát triển miền Nam Gia Định và cũng là Tiên sư của dòng võ Huỳnh gia, từng theo giúp Nguyễn Ánh lập công lớn nên được mang họ vua. Quê tại Giồng Cái Én, làng Trường Khánh, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, sau là làng Khánh Hậu, tỉnh Tân An, nay là xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình quan võ, ngay từ khi còn nhỏ ông có sức mạnh hơn người, đương thời gọi là “ông hổ tướng”. Lúc đầu, ông đứng trong hàng ngũ quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn, đến năm 33 tuổi (1781) ông mới theo Nguyễn Ánh. Ông là một trong "Ngũ hổ tướng thành Gia Định": Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Trương, Trương Tấn Bửu, và cũng là một trong bốn vị chưởng quản quân đội của Nguyễn Ánh: Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Tả quân Lê Văn Duyệt, Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức, Hậu quân Võ Tánh.

Năm Nhâm Dần (1782), ông được phong Hữu quân. Từ đó về sau, cuộc đời ông gắn chặt với Nguyễn Ánh, cùng nhau vượt qua gian khổ, nhất là khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi đến Định Tường và bị sa lầy. Chỉ mỗi một mình ông dám quay ngựa, xông thẳng về phía đối phương hô to những lời thách thức. Do lúc này trời sắp tối, quân Tây Sơn sợ bị mai phục nên rút lui. Trong đêm đó, vì quá mỏi mệt, Nguyễn Ánh đã gối đầu lên đùi ông ngủ mê man. Khi tỉnh vậy, chúa Nguyễn thấy Huỳnh Đức vẫn còn đang lấy áo đuổi muỗi cho mình. Cảm động, Nguyễn Ánh ban cho ông "quốc tính" và ông càng được chúa Nguyễn tin yêu, xem như người trong hoàng tộc.

Năm Quý Mão (1783), ông bị nghĩa quân Tây Sơn bắt làm tù binh, nhưng ông lại được Nguyễn Huệ trọng dụng, ra Bắc đánh quân chúa Trịnh, từng làm phó tướng cho Nguyễn Văn Duệ. Nhân lúc Nguyễn Văn Duệ định làm phản Nguyễn Huệ, ông có dịp trốn sang Xiêm (Thái Lan) theo về với Nguyễn Ánh.

Năm Canh Tuất (1790) được thăng chức Chưởng quản Hữu quân dinh, ra đánh chiếm được Phan Rí, rồi tiến chiếm cửa Thị Nại ở Bình Định. Năm sau hạ được thành Quy Nhơn, năm 1799 về cai quản xứ Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Sau khi Nguyễn Ánh chiếm thành Phú Xuân, giao ông trấn giữ thành Quy Nhơn.

Năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, ông được phong tước Quận Công, đến năm 1810, ông làm tổng trấn Bắc thành kiêm Khâm sai Chưởng tiền quân. Năm 1816, ông trở về miền Nam làm Tổng trấn Gia Định cùng với Trịnh Hoài Đức (Đức làm Hiệp Tổng trấn) cai quản cả khu vực miền Nam (Nam Kỳ).

Ngày 9-9 năm Kỷ Mão (1819), ông mất khi đang tại chức, thọ 71 tuổi, an táng tại quê nhà - tỉnh Long An.

Sau khi ông mất, triều đình truy tặng Phụ quốc thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Thái phó Quận Công, được thờ tại miếu Trung hưng công thần tại kinh đô Huế. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) được truy tặng là Kiến Xương Quận Công.

Ông có 4 người con trai đều xuất thân là võ quan, có hai người là rể vua Gia Long. Hậu duệ đời thứ bảy của ông là võ sư Huỳnh Tuấn Kiệt - chưởng môn sáng lập võ phái Nam Huỳnh Đạo.

Hiện nay, tại thị xã Tân An có đền thờ và lăng mộ của ông. Khu lăng mộ này đã được Bộ Văn hoá - Du lịch - Thể thao công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Khu di tích được dòng tộc giữ gìn và chăm sóc chu đáo.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt