<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Chiêm Hoá

Sơ lược
 

Chiêm Hoá là huyện miền núi ở phía Đông Bắc tỉnh Tuyên Quang, cách thị xã Tuyên Quang 67km về phía Bắc, nơi có hơn 80% là dân tộc thiểu số.

Lịch sử hình thành
 

Trong các triều Đinh - Lý - Trần – Lê, Châu Đại Man được gọi là châu Vị Long, khi thuộc Minh, châu Vị Long đổi thành châu Đại Man; đến năm 1835 đổi thành châu Chiêm Hoá (nay là huyện Chiêm Hoá).

Trước năm 1976, Chiêm Hoá thuộc tỉnh Tuyên Quang, năm 1976, Hà GiangTuyên Quang sáp nhập thành Hà Tuyên, Chiêm Hoá thuộc tỉnh Hà Tuyên.

Năm1991, tỉnh Hà Giang tách khỏi Hà Tuyên, Chiêm Hoá trở thành huyện của tỉnh Tuyên Quang.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Bắc Chiêm Hoá giáp huyện Na Hang; phía Nam giáp huyện Yên Sơn; phía Đông giáp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; phía Tây giáp huyện Hàm Yêntỉnh Hà Giang.

Địa hình

Chiêm Hoá có nhiều dãy núi cao như: Khau Bươn, núi quạt Phia Gioòng, Chạm Chu… giữa các vùng đồi núi là những thung lũng, đất đai màu mỡ. Sông suối có độ dốc cao, độ cao phổ biến từ 200 – 600 m và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 250.

Khí hậu

Chiêm Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia thành 2 mùa, mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.700 - 1.500 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22 - 240C.

Tài nguyên

Chiêm Hoá có các nguồn tài nguyên khoáng sản như Mangan tại xã Phúc Sơn, Minh Quang; quặng ăngtimoan tại các xã Ngọc Hội, Phú Bình; mỏ đá tại các xã Linh Phú, Phúc Thịnh, Thổ Bình, Minh Quang, Phúc Sơn; cát, sỏi Ngòi Quãng, Sông Gâm; Barit ở Hạ Vị; mỏ than Linh Đức xã Linh Phú; ngoài ra Chiêm Hoá  còn có mỏ c, kẽm…

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Đất đai ở các xã vùng cao của Chiêm Hoá phù hợp với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và trồng rừng, phát triển kinh tế lâm – nông nghiệp, còn các xã phía Nam của Chiêm Hoá có độ dốc phổ biến 10 - 250, thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực và cây ngắn ngày khác. Chiêm Hoá hiện có trên 9.000 ha rừng đặc dụng ở các xã Kim Bình, Hòa Phú, Hà Lang, Trung Hà với nhiều loài cây cổ thụ, động vật hoang dã quý hiếm.

Rừng ở Chiêm Hoá. Ảnh: dof.

Chiêm Hoá cũng là vùng đất thích hợp trồng các loại cây ăn trái, ở Chiêm Hoá hiện có 290,2 ha nhãn, 122,5 ha vải, 58,5 ha quýt

Chiêm Hoá có đường quốc lộ 279 dài 20,2 km từ Hà Giang chạy qua Chiêm Hoá đến  Na Hang, đường 190 từ km 31 chạy qua huyện chiêm Hoá lên huyện Na Hang, đường 185 từ đầu cầu Chiêm Hoá thị trấn Vĩnh Lộc đi Vinh Quang, Kim Bình đến Kiến Thiết huyện Yên Sơn; đường 188 từ thị trấn Vĩnh Lộc đến xã Thổ Bình và đường 187 từ xã Yên Lập sang huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Chiêm Hoá có 127 km liên huyện; 5,5 km đô thị và tuyến giao thông thuỷ là sông Gâm đoạn chảy qua Na Hang đến Chiêm Hoá với độ dài 40 km.

Chiêm Hoá có Cụm Công nghiệp An Thịnh tại thôn An Thịnh xã Phúc Thịnh được đầu tư xây dựng nhà máy và các cơ sở chế biến nông lâm sản, luyện quặng Ferromangan. Hiện đã có 2 nhà máy được khởi công là nhà máy khai thác, chế biến Ferromangan với công suất thiết kế 15.000 tấn sản phẩm/năm và nhà máy chế biến đũa gỗ tách xuất khẩu.

Ngoài ra, Chiêm Hoá còn có nhiều cơ sở chế biến cơ khí, sản xuất đồ mộc, đồ gia dụng, làng nghề mây tre đan tại xã Trung Hà

Văn hoá, xã hội

Diện tích: 1 455,8km2

Dân số: 126.100 người (2004)

Mật độ dân số: 87 người/km2

Huyện lỵ: thị trấn Vĩnh Lộc

Chiêm Hoá có 27 xã gồm: Bình An, Thổ Bình, Hồng Quang, Minh Quang, Phúc Sơn, Trung Hà, Tân Mỹ, Hà Lang, Tân An, Hùng Mỹ, Phúc Thịnh, Hoà Phú, Tân Thịnh, Hoà An, Trung Hoà, Yên Nguyên, Nhân Lý, Yên Lập, Bình Phú, Phú Bình, Ngọc Hội, Kim Bình, Kiên Đài, Tri Phú, Linh Phú, Vinh Quang và Bình Nhân.

Chiêm Hoá là địa bàn sinh sống của 22 dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Thuỷ...

Chiêm Hoá nổi tiếng với lễ hội Lồng tồng của bà con dân tộc Tày tại thị trấn Vĩnh Lộc vào ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm. Lễ hội gồm: rước các mâm tồng, cúng tế tạ ơn, cầu mưa, cày ruộng, phát lộc tồng, múa xuống đồng…

Sau khi làm lễ, mọi người tham gia trò hội tung còn. Đây là trò chơi nhưng cũng là nghi thức không thể thiếu trong lễ hội Lồng tồng Chiêm Hoá. Trên cây còn treo 3 vòng nhật nguyệt, tượng trưng cho Thiên - Địa – Nhân (trời, đất và người).

Theo quan niệm của bà con dân tộc Tày, còn phải được ném thủng và nếu thủng trước 12 giờ trưa thì năm đó mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu.

Ngoài trò chơi tung còn, trong lễ hội Lồng tồng còn có các trò vui khác như: thi khâu còn đẹp, thi kéo co, đi cà kheo, leo cột, bắn nỏ, thi hát Shi, hát lượn, hát then, cọi, páo dung, khèn, sáo; thi nấu ăn…

Với số dân chỉ hơn 100 người, dân tộc Thuỷ là dân tộc thiểu số ít người nhất ở Tuyên Quang. Người Thuỷ trước đây chỉ biết trồng sắn, ngô, sau này biết làm lúa nước, người Thuỷ làm nhà theo kiểu người Dao, vật dụng gia đình tương tự như người Pà Thẻn và trang phục giống người Kinh.

Tiềm năng du lịch

Chiêm Hoá có nhiều thắng cảnh đẹp, là điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch lịch sử văn hoá như: Rừng nguyên sinh Cham Chu; thác Bản Ba, xã Trung Hà; hang Thẳm Hốc, Thẳm Vài, Bó Ngoặng, thác Lung Chiêng, xã Phúc Sơn; hang Núi Chùa, hang Mỏ Bài, động Bản Pài xã Minh Quang; thác Lụa xã Hà Lang; rừng sinh thái trên núi đá Tầng, Biến xã Phúc Sơn; các khu di tích lịch sử: Kim Bình, Kiên Đài, Yên Nguyên, Vinh Quang, Linh Phú, Xuân Quang…

Ngoài những thắng cảnh đẹp, Chiêm Hoá còn thu hút du khách bởi những món đặc sản như: rượu nếp cái hoa vàng, bánh gai Chiêm Hóa; Pia bẳm (mắm cá ruộng) Kim Bình, xôi ngũ sắc, cơm lam, nộm rau dớn, thịt trâu khô, chè dây, chè đắng... bà con dân tộc Tày có thoái quen gói các món ăn trong các loại lá rừng, vì thế những món ăn quyện mùi thơm của lá gói, màu sắc của các món ăn cũng rất đặc biệt.

Đặc biệt khi đến Chiêm Hoá, du khách còn được khám phá đời sống của bà con dân tộc Thuỷ, xã Hồng Quang.

Khi đến Chiêm Hóa, du khách đi thêm khoảng 40km sẽ đến thôn Thượng Minh, xã Hồng Quang, nơi sinh sống của bà con dân tộc Thuỷ.

Mục tiêu

Đến năm 2010, mục tiêu của Chiêm Hoá là phát triển kinh tế theo hướng, nông lâm nghiệp chiếm tỷ lệ 40,0%, công nghiệp, xây dựng: 30,4% , dịch vụ: 29,6%.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 11,75%.
Sản lượng lương thực đạt 77.600 tấn, tăng bình quân hàng năm 1,6%; năng suất lúa bình quân 62,2 tạ/ha.
Tỷ lệ đàn gia súc, gia cầm tăng bình quân hàng năm: Đàn trâu 3%, đàn bò trên 15%, đàn lợn 6%, gia cầm 10%.
Trồng mới 5.450 ha rừng; khai thác 141.000 m3 gỗ rừng trồng, khai thác 21.500 tấn tre nứa nguyên liệu; độ che phủ của rừng trên 70%.
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 175.951 triệu đồng, tăng bình quân hàng năm 29,79%.
Trên 80% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia, 85% số hộ được sử dụng nước sạch.
Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân hàng năm 14%.
Xây dựng 40% trường tiểu học, 30% số trường THCS, 1 trường THPT đạt chuẩn Quốc gia; 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên; 1 Trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề.
97% dân số được phủ sóng phát thanh, trên 80% dân số được phủ sóng truyền hình.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo dưới 20%.
Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 15%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống dưới 1%, riêng tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đủ vácxin đạt 98%.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt