<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Phạm Phú Thuần

Tiểu sử
 

Thi sĩ, nhân sĩ Phạm Phú Thuần, quê ở làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Ông xuất thân trong một gia đình vọng tộc, khoa bảng, cháu nội của đại thần, danh sĩ Phạm Phú Thứ. Thời nhỏ, ông học ở Hội An và Huế.

Năm 1938, nhân bằng hữu và gia đình rước hài cốt Trần Quý Cáp (1870-1908) từ Khánh Hoà về cải táng tại Bất Nhị, ông có viết bài thơ truy niệm chí sĩ họ Trần:

Bằng hướng Thai Xuyên điện nhứt tôn,

Lâm phong hoài tưởng điếu trung hồn.

Văn Sơn thâu nhiệm cương thường trọng,

Võ Mục oan trần nhựt nguyệt hôn.

Để cuộc hoàn danh thù tổ quốc,

Thử sanh đại tiết khởi nho môn.

Như kim phong thạch nguy nhiên trỉ,

Ưng dữ hà sơn vĩnh viễn tồn.

Dịch thơ:

Trước mộ Thai Xuyên rót chén vàng,

Viếng hồn trung liệt ngậm ngùi than!

Cương thường gánh vác Văn Sơn nặng,

Nhật nguyệt lu mờ Võ Mục oan.

Một thác tiếng tròn vì tổ quốc,

Ngàn năm tiết rạng chói nho quan.

Tấm bia đồ sộ đầy ghi tạc,

Mãi với non sông được vững vàng.

(Cổ học tinh hoa Quảng Nam, 1960)

Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), ông tham gia công tác văn nghệ ở Quảng Nam và Liên khu 5 ở Bình Định.

Bài thơ Về thăm làng vùng bị chiếm in lần đầu tiên ở Hà Nội (đầu năm 1948) nói lên được cuộc trường kì kháng chiến và tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh của đồng bào Quảng Nam trong những ngày đầu đánh Pháp.

VỀ THĂM LÀNG VÙNG BỊ CHIẾM

Đùng! Đùng! Đùng!

Bom đạn nổ lung tung

Quân địch tràn Gò Nổi

Vị trí đúng Phú Bông

Bao nhiêu làng lân cận

Hàng ngày chúng đi lùng

Mới đến đà khó chịu,

Ít lâu càng hành hung

Hãm dân đốt nhà cửa

Giết người cướp của dùng

Không thể ở làng cũ

Đi tuốt vô miền trong

Đất khác một mình trông

Tản cư mười tháng ròng.

Nghe đồn tin giặc như chừng dịu

Hơi thu vườn cũ khêu tấm lòng

Tò mò theo chúng đi về thử

Quanh co chỉ ngại đường long đong

Trèo đèo lặn suối hai hôm sớm

Mây ngàn cỏ nội ngó mênh mông...

Đến làng hết canh một

Mọi người chia tây đông

Cặm cụi lần bước dọ

Mập mờ chống mắt trông

Xóm làng đều khác hẳn

Đường sá sao bịt bùng?

Hú vía khốn nạn! chắc ma dẫn

Lạc đường nên nỗi đi bao đồng

Bình tĩnh đứng lại nghỉ một lát

Lần hồi nhắm hướng tìm nẻo thông

Về đến vườn cũ nhìn đúng ngõ

Vạch gai chun bụi, đàng cũ cong

Mây mù, gió nẻo sao lòe lập

Cảnh đêm lặng ngắt trông rợn rùng

Nhà lớn xiêu đổ, nhà ngang cháy

Lặng nghe ngủ ngáy giấc đang nồng

Gõ cửa se sẽ, kêu nho nhỏ,

Vợ nhà nghe tiếng còn phập phồng...

Tiếng nữa nhận rõ, đẩy hé cửa:

Ngạc nhiên trong mắt ứa đôi tròng

Biệt li hai ngã gần năm trọn

Ngờ trong hồn mộng được trùng phùng?

Đầu trên ngủ đậu, ông hàng xóm

Giấc mơ chợt tỉnh, vọt rào dông...

Đêm khuya khoắt, gió heo rung

Leo lắt một tia sáng,

Hình ảnh hai vợ chồng

Ngọt ngào kể câu chuyện

Chưa cạn nỗi thủy chung

Tạm gác chờ mai đã

Tắt đèn đi ngủ chùng.

Đặt lưng xuống chiếu vừa chốc lát,

Tiếng đâu ngoài ngõ ồn như ong!

– Ủa, chớ chuyện gì vậy?

– Tiếng ai như tiếng ông?

Tây lên gần tới cổng

Liên lạc đã giục cồng.

Tốc mền nhảy dông đã

Tung ngõ theo dân nông

Trời tối bùn lầy bờ bụi rậm

Trâu nhiều đường hẹp, người ta đông

Mặc dầu tuổi già đầu gối yếu

Nhờ có sức mạnh cây gậy chống

Chạy lên đường sắt ba cây số

Mồ hôi nước mắt chảy ròng ròng

Hai chân khấp khểnh thở hì hục

Vừa nghỉ vài phút, đạn bay cùng

Cong lưng chạy lại cây số nữa

Lên tới Hoàng Diệu đói thót hông

Mười giờ nghe vắng lò mò xuống

Dọc đường trông thấy càng não nùng

Nhà tranh cháy sạch, nhà ngói đổ

Vườn tược, mít chuối khói đương lồng

Ai không có xứ sở

Trăm năm quê tổ tông

Ai không mến nhà cửa

Một giờ hóa bụi hồng.

Làm lơ đi ông về một mạch

Để xem tình thế mà đề phòng

Bàn thờ, ghế đẳng... xô đổ ngã

Sách vở, đồ đạc xáo lộn mòng

Gạo thóc, mắm muối đổ từng đống

Tây lên hồi nãy như điên khùng!

Cơm xáo canh rau dọn dưới đất

Mâm hũ bát bể ngồi xây vòng

Lót lòng vài miếng nuốt lấy được

Trương mắt bốn phía ngó mắt mong...

Tiếp tục kể lại câu chuyện cũ:

Tàn sát còn hơn lúc tấn công

Đốt nhà, chôn một bãi con nít

Quăng vô lửa đỏ quay mòng mòng

Xẻ trâu có chửa gần ngày đẻ

Nghé con trong bụng đương vẫy vùng.

Ngày kia mười một ông phụ lão

Chúng thường gặp mặt đã nhìn dung

Một tua súng máy quanh vừa dứt

Xương tan thịt nát đường bắn bông

Chặt đầu một chú đặt trên thớt

Trần thiết muối ớt giả chơi lung

Giết trâu, đốt nhà, cướp bóc, hiếp

Ví chạy bữa một ngày nào không

“Coi bộ đàn ông thế khó ở

Ông nên tránh gấp chớ ngại ngùng

Ngày kia Tổ quốc được Độc lập

Đầu bạc cũng gặp lại non sông”

Cầm tay dài vắn, mặt nhìn mặt

Nỗi niềm tan hợp nỗi bình bồng

Phần tôi cố nhiên là phải tránh

Còn nỗi ở lại biết có xong

Mưa to gió lớn, nhà một cột

Bể sâu, sóng cả thuyền giữa dòng

Xóm giềng hiu quạnh dễ mô ở

Làm ăn biết có chắc mà mong.

Phần ông cầu chúc cho yên ổn

Sự đời xin chớ lo viễn vông

Vơ vét làng ta chúng đốt sạch

Của cải đâu nữa mà còn hòng

Huống là ủy ban đang làm việc

Hơn nữa đồng bào còn đóng sòng

Qua mùa mưa lụt dễ đi tới

Thời mối lo ngại cũng thong dong

Lúc muốn về thăm sẽ về lại

Cùng vui năm mới xem quang phong

 


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt