<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Ông
Hiệp Hòa - TP Biên Hoà - Đồng Nai

Vị trí

Chùa Ông còn có tên gọi là Thất Phủ Cổ Miếu, thuộc địa phận xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa cách đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ khoảng 100 mét. Vốn trước kia đây là ngôi miếu thờ Quan Đế, do người Hoa ở Đồng Nai lập nên vào khoảng năm 1684.

Kiến trúc

Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc chữ khẩu 口. Mặt tiền chùa được trang trí khá độc đáo với các tượng gốm men xanh của thợ gốm Cây Mai (Chợ Lớn) về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt... Cùng với những tác điêu khắc do thợ đá Bửu Long thực hiện vẻ đẹp độc đáo riêng mà không nơi nào có được. Với những giá trị đó, chùa ông không chỉ là nơi thờ cúng, tín ngưỡng mà còn là một điểm tham quan khá thúc vị dành cho du khách.


phường Tân An - quận Ninh Kiều - thành phố Cần Thơ

Chùa Ông có tên theo tiếng Hán là 廣趙會館- Quảng Triệu Hội quán, nằm tại số 32 đường Hai Bà Trưng, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chùa nằm trong khu dân cư người Hoa, cạnh bến Ninh Kiều, giữa trung tâm thành phố. Chùa đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993.

Lịch sử
 

Chùa do nhóm người Hoa thuộc hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đến Cần Thơ sinh sống lập nên vào năm Quang Tự 20 tức năm 1894. Thực ra đây là một miếu thờ Quan Công và Thiên Hậu Thánh Mẫu, nhưng người Việt quen gọi là chùa Ông, cũng có khi gọi là chùa Bà. Không giống như một số chùa Hoa khác, chùa Ông ở Cần Thơ không có bia ký ghi tên những người khởi công xây dựng, niên đại hình thành, nhưng ở các mảng chạm khắc gỗ, đôi liễn bình phong, lư hương đều có ghi rõ tên tác giả, người ủng hộ và năm thực hiện.

Ban đầu, một số người Hoa Quảng Đông thành lập Quảng Triệu hội quán để vận động tiền của xây dựng nghĩa địa và chùa Ông. Theo các vị trong Ban Quản trị và các tư liệu khắc gỗ còn ở di tích thì chùa Ông được bắt đầu xây dựng vào năm 1894 đến năm 1896 thì hoàn thành. Hầu hết vật liệu để cấu thành các chi tiết kiến trúc đều được đưa từ Quảng Đông sang như cột gỗ, đá làm trụ chân cột, liễn đối, kèo, đòn tay, chuông đồng, lư hương và đều có ghi niên đại 1896 do các nhà hảo tâm đóng góp. Những năm sau này, chùa được xây thêm ngôi nhà khách. Năm 1931, hương quản Dương Lập Can đã đóng góp xây dựng ngôi nhà bếp. Tuy lịch sử dựng chùa kéo dài qua ba thời kỳ với ba kiểu nhưng lại rất hài hòa với nhau tạo thành quần thể kiến trúc độc đáo, mang phong cách người Hoa.

Kiến trúc
 

Chùa Ông - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ 國 - Quốc, bao gồm các dãy nhà nối tiếp nhau, ở giữa có một khoảng sân rộng gọi là 天井 - Thiên Tỉnh (Giếng Trời). Mái chùa lợp bằng ngói lưu li màu xanh, trên đỉnh mái trang trí hình lưỡng long tranh châu. Hai trụ cột chính giữa chùa được đắp nổi hình ngư hoá long rất đẹp mắt.

Hầu hết vật liệu xây dựng và trang trí nội thất đều được đưa từ Trung Quốc sang: như cột gỗ, đá làm trụ chân cột, liễn đối, kèo, đòn tay, chuông đồng, lư hương và đều có ghi niên đại 1896. Riêng các bao lam ở bàn thờ Quan Công thì được làm tại đường Thủy Binh (đường Đồng Khánh, quận 5, Chợ Lớn, thành phố Hồ Chí Minh). Bệ thờ, tượng Quan Âm, ba bàn hương án trước bàn thờ Quan Thánh thì xây dựng vào năm 1974 bằng đá mài.

Trung tâm chánh điện thờ Quan Công - vị thần được xem là tiêu biểu cho nhân nghĩa lễ trí tín, cho lòng danh dự, dũng cảm trung thành của người Hoa. Ngoài ra, còn có Thiên Hậu Thánh Mẫu - vị thần hỗ trợ cho những di dân Trung Hoa trên biển cả; Phật Bà Quan Âm - vị nữ thần cứu khổ cứu nạn, ban phát con cái. Tiền điện bên trái thờ Mã Tiền tướng quân và bên phải thờ Phúc Đức Chính Thần.

Sân Thiên tỉnh: lợp ngói âm dương, gờ mái bằng men xanh thẫm, bộ vì kèo làm theo kiểu chồng rường gối mộng lên nhau qua những con bọ được chạm khắc tinh vi, chung quanh mái được thiết kế di động để điều chỉnh ánh sáng thiên nhiên. Trong sân đặt hai bộ bát bửu, chậu kiểng, bàn hương án. Trên vòm mái treo một báo ghi môn và bảng đại tự 協力同 - Hiệp Lực Đồng.

Nổi bật nhất trong nghệ thuật điêu khắc ở chùa Ông có lẽ là phù điêu, chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong trang trí. Phù điêu hiện diện khắp nơi từ các bao lam, hoành phi, liễn đối, xà ngang, bằng nghệ thuật chạm nổi với nội dung vô cùng phong phú được rút ra từ các huyền thoại, lịch sử Trung Quốc: Tam quốc chí, Ngũ hổ Bình Tây, Bát Tiên, Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Cung hoặc thể hiện ở kỹ thuật chạm chìm những đề tài quy ước mai, lan, cúc, trúc, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa tiên, chim phụng...

Lễ hội
 

Chùa Ông có nhiều lễ hội trong năm, nhưng tiêu biểu nhất là ngày vía Quan Thánh Đế Quân được tổ chức vào ngày 26-06 âm lịch và ngày vía Thiên Hậu Thánh Mẫu được tổ chức vào ngày 23-03 âm lịch. Trong các ngày vía đó, đông đảo bà con người Hoa và dân làng địa phương đến tham dự tạo nên một không khí rất sinh động và vui tươi. Người đi lễ đều thành kính dâng hương, mong ước được an lành, bình yên trong cuộc sống.

Ngày Tết cũng là một sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo quan trọng, là lễ hội lớn nhất trong năm. Tùy theo điều kiện kinh tế mà trong những ngày này đồng bào Hoa mang đến chùa heo quay, heo sống, gà vịt, bánh trái, nhang đèn... Họ sửa sang trang hoàng lại chùa, tắm gội và ăn mặc thật đẹp đẽ cùng nhau đốt cho các vị thần những nén hương với tất cả sự trong sạch và tinh khiết của thể xác và tâm hồn.

Trong các dịp lễ hội, ngoài lễ chính, Ban trị sự chùa còn tổ chức đấu giá đèn lồng, múa lân, sư, rồng, hội diễn văn nghệ... tạo được một không khí sinh hoạt văn hóa lành mạnh và sân chơi bổ ích cho địa phương. Trong đó, hấp dẫn nhất là hội đấu đèn. Mục đích của việc tổ chức đấu giá đèn lồng nhằm làm tăng thêm sinh khí cho các ngày lễ hội, tạo sự vui tươi, tình đoàn kết trong cộng đồng. Ngoài ra, nó còn mang ý nghĩa từ thiện. Số tiền đấu giá được đều dùng vào việc công đức như: xây nghĩa trang, trường học, giúp đỡ trẻ mồ côi...

Người Hoa làm đèn lồng rất đẹp, mỗi đèn đều có tên riêng: đèn Thiên Hậu Thánh Mẫu, đèn Quan Thánh Đế, đèn Phước Đức Chính Thần... Đèn cao khoảng 60 cm, chu vi khoảng 40 cm, hình trụ có 6 mặt, mỗi mặt là một miếng kính, có vẽ hình phong cảnh, núi sông, mai, điểu, trúc, sen... và kèm theo những câu chúc phúc bằng chữ Hán như: 生意興隆 - Sinh ý hưng long, 合家平安 - Hiệp gia bình an, 財來祿進 - Tài lai lộc tấn... Sáu góc đèn là hình 6 con rồng được thếp vàng lộng lẫy, đầu chầu vào nhau, 6 đuôi rồng hơi dang ra, tạo thế chân đèn, các cạnh xung quanh đều treo tòn teng các miếng ngọc bội màu xanh và nơ màu đỏ, phía dưới cùng treo lủng lẳng một miếng thẻ bằng nhựa màu vàng ghi chữ đỏ tên từng loại đèn, phía trong gắn một bóng đèn tròn, khi đèn nóng thì lồng đèn tự động xoay từ từ. Người Hoa quan niệm: đấu được đèn, là vinh dự cho mình, cho gia đình và cho cả làng xóm. Người ta cũng tin khi đấu được đèn, rước đèn về nhà là một sự may mắn, bình an, sẽ làm ăn phát đạt.....



phường 2 - thành phố Trà Vinh - tỉnh Trà Vinh

Tổng quan
 

Chùa Ông có tên gọi chính thức là Phước Minh Cung tọa lạc tại số 44, đường Điện Biên Phủ, phường 2, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Dựa theo bi ký còn lưu lại thì chùa được xây dựng năm 1556. Chùa thờ Quan Công nên được gọi là chùa Ông. Chùa đã được xếp hạng di tích quốc gia ngày 16-11-2005.

Kiến trúc
 

Cũng như nhiều chùa Hoa khác, Phước Minh Cung có kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc". Mặt bằng tổng thể gồm ba tòa nhà nằm ngang song song tạo thành Tiền điện, Trung điện, Chánh h điện. Dọc hai bên là hai dãy tả điện, hữu điện hướng vào ba tòa nhà này tạo thành một công trình khép kín hình chữ khẩu. Chính giữa là sân Thiên tỉnh. Mái chùa thiết kế tầng bậc lợp ngói âm dương tiểu đại, diềm mái là loại ngói tráng men xanh ngọc. Trên các gờ mái mặt dựng đầu hồi trang trí đồ án lưỡng long thanh châu, bát tiên, tứ linh, hoa lá, muông thú... khung sườn chịu lực làm bằng gỗ quý gồm hai loại cột: tròn và vuông, kê chân cột là các tảng đá chạm hình cánh sen.

Tiền điện

Mặt trước tiền điện có ba cửa ra vào, một cửa vào chính điện, hai cửa vào tả, hữu điện. Cửa chính làm bằng gỗ với bốn cánh, trang trí hình tượng Tần Thúc Bảo, Uất Trì Cung, Từ Mậu Công và Ngụy Trưng. Hai bên vách là hai phù điêu Thanh Long, Bạch Hổ. Bên trên là bức hoành phi đề tên chùa 福 明 宮 - Phước Minh Cung. Trên các vì kèo chạm khắc họa tiết long, lân, hoa, lá rất tinh xảo, độc đáo cùng tiểu tượng Hàn Tương Tử, Lam Thái Hòa hai vị tiên trong bát tiên. Bên trong Tiền điện gồm các bàn thờ, khánh thờ: Ngọc Hoàng Thượng đế, Tiền hiền, Hậu hiền và hai phù điêu đào lộc trường thọ, tùng hạc trường xuân. Các bàn thờ, khánh thờ và trên các xà đội được chạm khắc hoặc ghép các phù điêu: lưỡng long triều nhật, song phụng tranh châu, quy đội hạc, hoa lá cách điệu... Ngoài ra, còn có các liễn đối, hoành phi, đặc sắc nhất là thủ quyển nghĩa khí và hoành nghĩa khí tam thiên được làm năm Tuyên Thống Nhị niên (1910).

Trung điện

Trung điện cũng được trang trí các phù điêu, liễn đối, hoành phi. Nổi bật nhất là đồ án bát tiên kỵ thú trang trí hai bên vách thiên tĩnh và trên góc giao xà cột. Đồ án thể hiện 8 chặng đường tu tập các bí pháp của đạo giáo để trở thành tiên. Ở đây cũng biểu trưng cho sự trường sinh bất tử.

Chánh điện

Chánh điện gồm ba gian, được bố trí như sau:

- Gian giữa: thờ Quan Thánh Đế Quân: khánh thờ ở trong cùng sơn phết, chạm khắc tỉ mỉ, tinh xảo. Kỹ thuật chạm khắc có chạm bong, chạm thủng, chạm nổi với các đề tài lưỡng long tranh châu, long vân, hoa điểu... bên trên là hoành phi kiền khôn chính khí thếp vàng chạm long vân.

- Gian trái thờ Chúa Xứ Nương Nương: khánh thờ chạm lưỡng long tranh châu, hoa, dơi, điểu... cùng câu đối "Chúa chí đào hoa kết thành kim phượng vũ, sinh hương tự triện thổ xuất ngọc long phi" và hoành tải tải.

- Gian phải thờ Phước Đức Chính Thần: khánh thờ với chữ Phước Đức Chính Thần cùng câu đối "Phúc đức bảo ngã tử tôn an thả kiết, Thần đàn vi dân phụ mẫu thọ nhi khang" và bức hoành uy linh uy đức. Ba hoành phi kiền khôn chính khí, tải dục tải sinh, uy linh uy đức lạc khoản giống nhau: "Trung Hoa Dân quốc Mậu Ngọ mạnh đông cát đán", nhiều khả năng hoành làm tháng 10.1918.

Ngoài ra, trên các cột chính điện còn vẽ long vân, trang trí liễn đối. Trên các trụ đội chạm khắc ngư hóa long, thủy ba, hoa lá cùng các mảng phù điêu chạm dơi, chim, bướm... Nội thất chính điện còn bố trí ba dãy bàn thờ với bàn thờ tượng thờ, bàn thờ ngũ sự, bàn thờ hoa quả cùng hai bộ bát bửu, hai bộ lỗ bộ đây cũng là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Đặc biệt, còn có xích thố bằng mây một công trình nghệ thuật hiếm thấy. Có thể nói Phước Minh Cung là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu còn lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật truyền thống độc đáo mang đậm nét văn hóa dân tộc Hoa, là một "bảo tàng mỹ thuật" để du khách chiêm ngưỡng.


Long Đức - Long Phú - Sóc Trăng

Chùa Ông toạ lạc tại xã Long Đức, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.


Tượng Lĩnh - Kim Bảng - Hà Nam

Chùa Ông toạ lạc tại xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Theo truyền thuyết thì chùa Ông ở giữa một hồ nước. Hồ có diện tích 320 mẫu, có nước quanh năm, độ sâu trung bình là 4 đến 5m. Năm 1901, do ảnh hưởng của lũ lụt, chùa bị cuốn trôi.


Đức Nghĩa - TP Phan Thiết - Bình Thuận

Vị trí

Ngôi chùa toạ lạc tại phường Đức Nghĩa, TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào dòng chữ Hán trên thanh xà cò nóc chính điện có ghi:  “Thiên kiến Canh Dần niên trọng Đông kiết tạo” cho biết chùa được xây dựng vào tháng 11 năm Canh Dần 1770. Thực ra đây là ngôi miếu của người Hoa xây dựng để thờ Quan Công, người Việt quen gọi là chùa.

 Kiến trúc

Trước cổng chùa còn tấm biển ghi “Quan Thánh miếu”.Mặc dù được dân làng quen gọi là “Chùa Ông” nhưng trong chùa không có sư trụ trì cũng như các tượng Phật chỉ thờ tượng Quan Thánh đế quân và những tượng khác.

Khuôn viên chùa khá rộng và đẹp bao trùm lối kiến trúc và trang trí nghệ thuật đặc trưng của người Hoa. Nhất là hệ thống cột, vĩ kèo được chạm khắccông phu sắc nét rất giống với nghệ thuật chạm khắc của các ngôi đình người Việt. Những câu đối sơn son thếp vàng lộng lẫy hơn khi nó được treo trên những cột chính bên cạnh những bức tranh chạm gỗ áp tường miêu tả những điển tích xưa của người Hoa có niên đại từ thế kỷ XVIII.

Chính điện và nhà thờ Tiền Hiền được trang trí nguy nga bằng hàng trăm bức hoành phi câu đối nhiều kích thước được chuyển từ Trung Hoa qua vào thế kỉ XIX. Đây là điều đáng tự hào của chùa, vì chưa từng có một di tích nào có số lượng hoành phi nhiều thế này. Rất nhiều chuông cổ có giá trị về nghệ thuật với cách trang trí phức tạp hơn đại hồng chung của người Việt được đúc từ Quảng Đông vào triều đại nhà Thanh.

 Lễ hội

Trước năm 1975, chùa Ông là nơi diễn ra lễ hội dân gian lớn nhất ở Phan Thiết. Từ năm 1996 lễ hội Nghinh Ông được tổ chức lại với quy mô hơn thu hút được nhiều người từ khắp nơi đến tham gia. Có thể nói Lễ hội Nghinh Ông là di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia do quy mô, các giá trị văn hoá và sự ngưỡng mộ rộng lớn của cả cộng đồng người Việt và người Hoa.

Hàng năm vào các ngày lễ Tết cổ truyền của dân tộc, nhân dân thường đến đây cầu nguyện cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm ăn may mắn, phát tài, phát lộc.


quận 5 - thành phố Hồ Chí Minh

Tổng quan
 

Chùa tọa lạc tại số 676 - 678 đường Nguyễn Trãi, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Thật ra đây là một ngôi miếu do người Hoa khởi dựng từ năm 1840, thờ Quan Công - nhân vật anh hùng trung nghĩa bậc nhất thời Tam Quốc. Nhưng người Việt quen gọi là chùa. Ðây cũng là nơi hội họp của người Triều Châu nên còn gọi là "Nghĩa An Hội Quán" (Nghĩa An là tên một vùng đất ở Quảng Đông,Trung Quốc, nơi đa số người Triều Châu sinh sống).

Đối với người Trung Hoa, Quan Công là bậc đại nghĩa, tượng trưng cho đức tính đầy đủ vẹn toàn người quân tử. Ðó là công minh, chính trực, dũng cảm, thủy chung, cao thượng, trọng chữ tín, trong danh dự nhân nghĩa... Ông được xưng tụng là "vạn cổ nhất nhân". Từ khi thành lập đến nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 1866, 1901, 1969 và mới đây nhất là vào năm 1984.

Kiến trúc
 

Kiến trúc ngôi chùa mang màu sắc Trung Hoa cổ kính, có lịch sử trên 200 năm, phù điêu gốm trên mái ngói hay các bông hoa chạm ngược, tượng kỳ lân, diềm gỗ, kèo sơn màu đỏ thắm...Từ hai cổng lớn vào đến cửa chùa có năm cặp kỳ lân lớn nhỏ bằng đá đặt đối xứng nhau, đặc biệt có đôi "lân hàm châu" (lân ngậm ngọc) chầu hai bên cửa.

Chùa có bố cục kiểu chữ Khẩu -口 với các dãy nhà khép kính vuông góc. Ở giữa là sân Giếng Trời. Nghệ thuật điêu khắc trang trí rất độc đáo, có 6 cột đá lớn, rồng cuốn công phu và tạc thêm liễn đối. Bình phong chạm nổi cả hai mặt sống động. Trang trí thiên về ghép mảnh sành sứ, cùng với đá khối lớn và gỗ quý.

Mái chùa có 3 cấp: giữa cao, hai bên thấp hơn. Trên nóc có gắn tượng sành hình lưỡng long tranh châu quen thuộc. Từ ngoài bước, bên phải là bệ cao thờ ông Bổn. Bên tái là tượng một con ngựa gỗ màu đỏ cao khoảng 2,5m. Ðó là "ngựa xích thố", con chiến mã của Quan Công. Sân Thiên Tỉnh (Giếng Trời) ở giữa chùa rộng rãi và khoáng đãng với những chậu cây cảnh. Dọc theo dãy hành lang hai bên sân đặt các bia đá ghi niên đại trùng tu chùa và tên tuổi những người đóng góp vào việc trùng tu đó.

Trung tâm chánh điện có tượng Quan Công bằng thạch cao, cao độ 50 cm, ngồi trên hổ trướng. Hình tượng Quan Công thể hiện ở đây mang những chi tiết đã trở thành qui ước: mặt đỏ, râu năm chòm dài đến ngực, tư thế đưa tay vuốt râu, đầu đội mão gắn kim hoa, mặc giáp trụ bên trong và áo bào xanh lá cây bên ngoài (để chỉ ông là người văn võ song toàn)...Hai bên là tượng Châu Xương và Quan Bình thấp hơn. Bên ngoài chánh điện đặt các hàng bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng và các quả chuông. Hai bên bệ thờ Quan Công là bệ thờ bà Thiên Hậu và Thần Tài. Đặc biệt trong chánh điện còn có phù điêu tả cảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận, Lê Lợi chiến thắng ở ải Chi Lăng.

Lễ hội
 

Lễ cúng Ông Quan Công ở chùa diễn ra vào các ngày 24 tháng Sáu âm lịch và rằm tháng Giêng. Rằm tháng Giêng là lễ hội lớn nhất, có hát xướng, múa lân...Lễ hội thường kéo dài 10 ngày. Ngoài ra chùa còn cúng Bà Thiên Hậu (23 thánhg 3 âm lịch), cúng ông Bổn vào mồng 1 tết và rằm tháng Tám.


phường Kinh Dinh - thành phố Phan Rang - Tháp Chàm - tỉnh Ninh Thuận

Chùa Ông với kiến trúc đẹp nằm giữa trung tâm thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là điểm đến tham quan của du khách gần xa mỗi khi có dịp đến thăm Ninh Thuận.

Nguồn gốc
 

Chùa Ông có diện tích xây dựng 400 mét vuông tọa lạc tại phường Kinh Dinh, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Đây là cơ sở thờ Đức Quan Thánh của cộng đồng người Hoa có kiến trúc đặc sắc phản ánh đỉnh cao kỹ năng xây dựng đình chùa của cư dân địa phương vào cuối thế kỷ 19.

Theo các bia ký tại chùa cho thấy đồng bào Hoa từ các tỉnh Phúc Kiến, Triều Châu di dân đến Ninh Thuận vào đầu thế kỷ 19. Năm 1831, bà con lập miếu thờ ngài Quan Công biểu thị lòng trung nghĩa nhằm mục đích động viên cộng đồng Hoa kiều đoàn kết, trung thực, hiếu nghĩa. Ngôi miếu xây cất nhỏ nằm ven đường thiên lý Bắc Nam rất thuận lợi cho việc đi lại giao lưu của cộng đồng Hoa kiều. Đến năm 1909, chùa Ông chính thức được trùng tu xây dựng trên quy mô lớn, mang đậm dấu ấn văn hóa tín ngưỡng của đồng bào người Hoa ở Ninh Thuận.

Hiện trạng
 

Công trình tồn tại nguyên trạng cho đến ngày nay với kiến trúc theo hình chữ “Tam” gồm ba gian nhà: gian thánh điện thờ Quan Công, gian bái đình có khoảng sân rộng cho nhân dân đến cúng viếng; gian hội quán làm nơi trao đổi của cộng đồng Hoa kiều. Hệ thống cột cái, đòn dông, vì kèo được làm bằng gỗ quý, chạm khắc tinh xảo, phản ảnh đỉnh cao trong nghệ thuật kiến trúc đình chùa vào cuối thế kỷ 19. Trên nóc chùa được trang trí hình tượng lưỡng long tranh châu; các mái được chạm khắc lân, phụng, hoa lá đường nét sinh động, sắc màu tươi tắn.

Chùa Ông còn lưu trữ nhiều vật dụng thờ cúng cổ có giá trị về nghệ thuật đúc đồng, gốm sứ, liễn thờ và bốn sắc phong của các đời vua Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh.

Với những giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, chùa Ông đã được nhà nước xếp hạng là di tích cấp quốc gia vào ngày 14/4/2011.

Hội lệ
 

Hằng năm, chùa Ông diễn ra các hoạt động tế lễ theo lệ vào các ngày 13 tháng Giêng âm lịch cúng “Đào viên kết nghĩa”; ngày 13 tháng Năm âm lịch vía Quan Bình; ngày 24 tháng Sáu âm lịch vía ngài Quan Thánh. Đặc biệt vào đêm Giao thừa, người Hoa địa phương đến thắp hương cầu mong quốc thái dân an, gia đình làm ăn thịnh vượng trong năm mới.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt