<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đền Tam Phủ
Trường Yên - Hoa Lư - Ninh Bình

Vị trí

Ngôi đền thuộc khu di tích Hoa Lư, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Lịch sử

Theo tấm bia dựng năm Chính Hoà 25 đời nhà Lê (1704) thì đền được xây dựng từ thời Đinh, khi Đinh Tiên Hoàng cho đắp con đê ngăn nước lụt. Trước đền hiện còn một ngôi miếu nhỏ. Tương truyền khi các quan về tế lễ phải vào đây “trình”, sau đó mới được lên đền, nên còn gọi là đền “Trình” hoặc “miếu Trình”. Đền thờ Thiên phủ, Địa phủ và Thuỷ Thần phủ.

Kiến trúc

Đền quay theo hướng Nam, hình chữ “Tam” gồm tiền tế, trung tế và thượng cung, hai bên có 2 giải vũ. Đền có 2 con nghê đá khá đẹp, dài 0.88 m, cao 0.4 m, rộng 0.33 m, dáng phủ phục, mặt hướng vào nhau, mắt mở to, miệng há rộng, chân trước quỳ xuống, chân sau co lại. Đền còn có một giếng thiên hoá, nằm sát cửa gần đầu hồi phía trái nhà trung tế, được kè bằng đá xanh lục và đá màu vàng nhạt. Tương truyền giếng có cùng thời với đền, dù nắng hạn hay mưa rào mức nước bao giờ cũng bằng nhau và từ thành giếng chỉ một tay là với tới.


xã Cao Đức - huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh

Đền Tam Phủ thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đây là di tích tín ngưỡng thờ Mẫu, được nhân dân địa phương dựng lên từ lâu đời trên bãi nổi Nguyệt Bàn để tôn thờ 3 vị chí tôn: Thiên Phủ, Địa Phủ, Thuỷ Phủ.

Đặc điểm
 

Đền Tam Phủ mang dấu ấn kiến trúc nghệ thuật hai thời Lê - Nguyễn, song giá trị nổi bật của di tích chính là đền được xây dựng trên Bãi Nguyệt Bàn, một địa điểm quân sự quan trọng trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông của quân dân thời Trần có liên quan đến Hội nghị Bình Than do vua Trần triệu tập các Vương hầu và Triều thần bách quan họp tại Bình Than để bàn kế sách đánh giặc giữ nước. Ý nghĩa lịch sử của Hội nghị này đã được các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự khẳng định.

Bãi Nguyệt Bàn nằm ở hạ lưu sông Đuống, tiếp giáp với Lục Đầu Giang, nguyên xưa rộng chừng 500 mẫu, xa khu dân cư, trên bãi mọc đầy lau sậy. Theo truyền lại, khi vua quan nhà Trần tổ chức Hội nghị trên bến Bình Than vào mùa Đông năm 1282 để bàn kế sách đánh giặc bảo vệ đất nước đã ra bãi Nguyệt Bàn - đền Tam Phủ lập đàn tế cáo trời đất.

Chính vì những giá trị lịch sử ấy mà Bãi Nguyệt Bàn - đền Tam Phủ đã được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa ngày 16/8/2007, quyết định số 1111/QĐ-UBND.

Hiện trạng
 

Đền Tam Phủ khởi dựng từ lâu đời và đã được trùng tu, mở rộng vào thời Lê - Nguyễn, bao gồm: đền Thượng, đền Trung và đền Hạ.

Đền Thượng: là nơi tối linh, do vậy tại gian giữa lập ban thượng điện, lát sàn gỗ, trên sàn gỗ đặt tượng Thiên phủ, Địa phủ, Thuỷ phủ ngồi nghiêm chỉnh trên ngai thờ, mỗi vị mặc một màu áo khác nhau để dễ phân biệt (Đức Thiên phủ mặc áo màu đỏ đầu đội mũ đỏ, Đức Địa phủ mặc áo màu vàng, đầu đội mũ vàng, Đức Thuỷ phủ mặc áo trắng, đầu đội mũ trắng). Hai bên đặt tượng Nam Tào, Bắc Đầu, tay cầm sổ sinh, sổ tử. Tất cả các pho tượng trên đều chạm nổi rõ từng đường cong, nếp gấp của tà áo, khuôn mặt đẹp đôn hậu. Toàn thân tượng lại phủ một lớp vàng son lộng lẫy thể hiện bàn tay tài hoa của nghệ nhân xưa.

Ngăn cách giữa đền Trung và đền Thượng là các bức cửa võng sơn son thếp vàng, hai bên bức cốn chạm nổi hình rồng uốn lượn.

Đền Trung: là công trình kiến trúc gồm 3 gian 2 chái, kiến trúc kiểu 4 mái, 4 đao cong. Khung gỗ lim, phía trước mở cửa bức bàn thông xuống đền Hạ. Trong đền, gian giữa lập thượng điện, trên có khám thờ, trong khám đặt tượng ngũ vị Tiên ông tạc bằng gỗ mít, ngồi xếp bằng trên bục. Nối tiếp thượng điện là hương án, trên bài trí đồ thờ gồm: mâm bồng, bình hương, hạc đồng, cây đèn… dưới hương án lập ban thờ ngũ hổ. Hai gian bên thờ Đức Ông và đức chúa Lục Đầu Giang mặc áo trắng, đầu đội mũ vương miện trắng có cài hoa, khuôn mặt mang đầy vẻ nữ tính, đẹp, đôn hậu. Trên khám thờ treo bức hoành phi “Tam phủ linh từ”, cột hai bên treo câu đối. Dưới hoành phi lắp cửa võng chạm thủng, chạm lộng, chạm kênh bong đề tài “tứ linh, tứ quý” sơn son thếp vàng.

Phía trước đền Trung, hai hồi lập lầu cô, lầu cậu, giữa có một sân nhỏ lát gạch rộng chừng 1,7m gọi là sân rồng.

Đền Hạ: gồm 3 gian 2 chái kiến trúc kiểu 4 mái, 4 đao cong như đền Trung, phía trước mở cửa bức bàn, phía sau gian giữa lắp cửa cánh ván, hai gian bên mở cửa lách thông lên sân rồng vào đền Trung. Khung đền làm bằng gỗ lim, cấu trúc vì kiểu kèo kìm, trụ sóc nóc, nối kẻ bẩy. Gian giữa lập ban thờ, phía trên lắp cửa võng, dưới gắn bức hoành phi “San quân vi tam”, phía ngoài treo tiếp bức hoành phi “Tôn cư tam giới”. Dưới lắp cửa võng chạm nổi kênh bong, đề tài “tứ linh, tứ quý”, trên cửa võng chạm nổi đôi rồng chầu mặt nguyệt. Hai má cửa võng chạm hình chim phượng uốn mình nhào lộn trong mây. Mười bốn ô còn lại của cửa võng chạm nổi hình rồng, thông, cúc, trúc, mai, hình chim phượng. Ô chính giữa cửa võng hình vuông, chạm nổi một con rồng lớn, đuôi xoắn lại, chân mập mạp với những móng sắc bám vào đám mây.

Bên dưới cửa võng là thượng điện. Trên thượng điện đặt 3 ngai thờ, 3 bài vị, 3 mũ màu vàng, đỏ, trắng, hai bên gian treo chiêng, trống, khánh, chuông. Nối tiếp có hương án, trên bài trí các đồ thờ gồm: bình hương, đỉnh đồng, cây hương, cây nến, hai bên hương án có tàn, lọng…

Trước đền Hạ là một khoảng sân khá rộng lát gạch vuông, bên trái xây khám thờ trung thiên, bên phải là 3 gian đền thờ công chúa Thánh Thiên, kiến trúc đơn giản kiểu kèo kìm, quá giang gác tường. Trong đền lập ban thờ, trên ban thờ có tượng công chúa Thánh Thiên, hai bên có Kiêm Liên tại hạ, Nhị vị tướng quân và Ả nữ kiến quốc.

Hàng năm vào ngày 15 tháng 2 và ngày 15 tháng 8 (âm lịch), đền Tam Phủ tổ chức tế lễ truyền thống.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt