<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Long Phước

Tổng quan
 

Chùa nằm trên tỉnh lộ 38 (đường từ Bạc Liêu đi Vĩnh Châu), thuộc phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, cách chợ Bạc Liêu 1.500 m về hướng Đông. Cạnh chùa có am Cô Bảy nên chùa còn có tên dân gian là chùa Cô Bảy. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên do người Việt xây dựng trên đất Bạc Liêu. Chùa đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh theo Quyết định số 1379/QĐ.UB ngày 07-11-2001.

Chùa có kiến trúc đẹp, được bố trí thật hài hoà trong một khu đất rộng có cây cối xanh tươi, cảnh vật nên thơ và yên tịnh. Khu chánh điện, tổ đường, và nhà nghỉ, nhà khách…được xây dựng ở trung tâm; phía trái là những ngôi tháp cổ nằm ẩn khuất dưới những tàng cây đại thụ; bên phải là giảng đường uy nghi; phía sau chùa là một cái ao lớn, người địa phương gọi ao này là “giếng chùa”, ao từng là nơi cung cấp nước cho dân làng hàng trăm năm qua; phía trước chánh điện là một vườn hoa có nhiều hoa thơm cỏ lạ, có tượng Quán Thế Âm đứng sừng sững giữa hồ sen hình bán nguyệt như một tiểu cảnh Lạc Đà Sơn.

Lịch sử
 

Chùa được xây dựng vào năm 1840 tại thôn Vĩnh Hinh với tên gọi là Vĩnh Hinh Tự - 永馨寺. Trong một thời gian dài chùa không có trụ trì chính thức, chỉ có Ban Hộ tự do các phật tử bầu ra để coi sóc chùa. Ngôi chùa lúc đó có hình thức sinh hoạt giống như một niệm phật đường có thiện nam tín nữ hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Vào những ngày lễ lớn, các chư tăng được mời đến chùa để giảng kinh thuyết pháp.

Năm 1888, hoà thượng Thiên Ân - 天恩 (huý danh: Như Chánh - 如正, Tân Mùi 1871 – Ất Dậu 1945, trụ trì chùa Phước An ở Cái Dầu - Sa Đéc) thấy chùa đã xuống cấp nặng nên đứng ra vận động bà con Phật tử trùng tu ngôi chùa. Một năm sau, công việc trùng tu hoàn tất, Ban hộ tự chùa Vĩnh Hinh mời hoà thượng Thiên Ân ở lại trụ trì chùa. Nhận thấy chùa Vĩnh Hinh có vị trí tốt, có nhiều ưu điểm về mặt địa lý, có điều kiện làm nơi phát triển Phật giáo tỉnh sau này, nên hoà thượng đã đề nghị đổi tên chùa là Long Phước Tự - 隆福寺 (có nghĩa là ngôi chùa tràn ngập phước lành). Trong thời gian trụ trì, hoà thượng Thiên Ân tiếp tục vận động xây cất lại nhà Tổ, nhà bếp, nhà nghỉ cho chư tăng....Cũng trong thời gian này, hoà thượng đã đào tạo rất nhiều đệ tử, trong số đó có những vị rất nổi tiếng như: hoà thượng Phổ Chí, hoà thượng Huệ Quang…

Hoà thượng Thiên Ân trụ trì chùa Long Phước được khoảng 20 năm thì phải trở về Cái Dầu vì ngôi chùa cũ ở đó thiếu người chăm sóc. Hoà thượng Phổ Chí - 普志 (huý danh: Cảo Tâm - 杲心, Quý Mùi 1883 – Đinh Sửu 1937) kế thừa trụ trì chùa Long Phước. Trong thời gian làm trụ trì chùa Long Phước, hoà thượng Phổ Chí cũng đào tạo được rất nhiều đệ tử và tiếp tục làm những công việc có ích cho xã hội như: vận động mọi người sửa lại con đường từ lộ cái đi Vĩnh Châu xuống bờ sông Bạc Liêu để người dân đi lại dễ dàng; tổ chức đào rộng thêm giếng làng (đã có sẵn) để người dân trong làng có đủ nước dùng trong mùa khô … Hoà thượng còn là một thầy thuốc giỏi lại có tinh thần phục vụ cao, nên lúc nào chùa cũng có người đến nhờ xem mạch trị bệnh, vì vậy tín đồ càng lúc càng đông. Trong thời gian này, có một người tên Phạm Văn Tư (1869 – 1940, người ở Cái Dầu) đến xin phép hoà thượng cho cất một cái am trên đất chùa, đặt tên là am Cô Bảy. Từ đó, người ta còn gọi tên chùa là chùa Cô Bảy. Năm 1930, hoà thượng Phổ Chí đã vận động trùng tu chùa Long Phước lần thứ hai. Lần trùng tu thứ nhất năm 1888, cửa của chánh điện được thiết kế ở hướng Đông, nhưng lần này theo ý của Hoà thượng Phổ Chí, chánh điện được giở ra xây cất lại, và cửa chính được xoay về hướng Nam, cả Tổ đường cũng xây song song với chánh điện, cửa cũng xoay về hướng Nam như ngày nay.

Ngày mùng 03 tháng 11 năm Đinh Sửu 1937 hoà thượng Phổ Chí viên tịch, nhục cốt ngài được nhập tháp ở phía Đông chánh điện của chùa. Đại đồ đệ của ngài là thượng tọa Chí Hiếu - 志孝 kế vị trụ trì. Thượng tọa Chí Hiếu làm trụ trì được ít lâu thì tham gia cách mạng. Năm 1945, ông tạo điều kiện cho Công binh xưởng của Tỉnh đội Bạc Liêu trú đóng và hoạt động tại chùa. Được sự hỗ trợ và bảo bọc của tăng ni chùa Long Phước, công binh xưởng đã sản xuất được nhiều sản phẩm, vũ khí cung cấp cho các chiến trường thuộc địa phận quân khu IX. Công binh xưởng hoạt động được sáu tháng thì có lệnh rút về Cây Vang, được ít lâu lại dời sang Cạnh Đền sau đó lại dời xuống Cái Tàu. Thượng tọa Chí Hiếu cũng rời chùa, chính thức gia nhập Công binh xưởng để phục vụ cách mạng. Thượng tọa Chơn Pháp ở Phú Lộc (Sóc Trăng), được Ban hộ tự Chùa Long Phước mời về làm trụ trì.

Thượng tọa Chơn Pháp - 真法 (huý danh: Nhật Hoa -日華) là một trong những đệ tử của hoà thượng Phổ Chí. Thời gian trụ trì chùa Long Phước, ông đã hết lòng phục vụ đạo pháp, thực hiện nhiều công việc mang lại lợi ích cho xã hội. Ngoài ra, ông còn tạo điều kiện cho cán bộ cách mạng hoạt động hợp pháp tại chùa. Ngày 26 tháng 1 năm 1955 Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Bạc Liêu thành lập tại chùa Long Phước, các cán bộ như Lê Văn Út (Út Rổ) – Bí thư Thị Ủy, Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường) và Hà Thái Bình – Thị ủy viên cũng thường có mặt ở chùa để hoạt động. Ngày 17 tháng 5 năm Nhâm Dần (1962), thượng tọa Chơn Pháp viên tịch, tháp của ông được xây bên cạnh tháp của hoà thượng Phổ Chí.

Từ năm 1962 - 1965, chùa Long Phước không có trụ trì. Năm 1966, Ban hộ tự chùa mời hoà thượng Hiển Giác - 顯覺 về làm trụ trì. Hoà thượng có tên thật là Nguyễn Văn Đằng (1926 – 1992) quê quán ở làng Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Sau khi về làm trụ trì chùa Long Phước, hoà thượng Hiển Giác tổ chức ngay một lớp đào tạo trụ trì tại chùa, lớp học có 15 người tham dự. Sang năm sau (1967), ông lại mở thêm một lớp đào tạo trụ trì khác, lớp này có cả Tăng Ni ở Cà Mau tham dự, tất cả được 20 người. Năm 1969, hoà thượng Hiển Giác về làm trụ trì chùa Vĩnh Đức (phường 7, thị xã Bạc Liêu). Hoà thượng Hiển Giác cũng là người tham gia hoạt động cách mạng. Sau năm 1975, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Minh Hải, Ủy viên Hội đồng Nhân dân tỉnh Minh Hải cho đến ngày ông viên tịch.

Sau khi hoà thượng Hiển Giác về chùa Vĩnh Đức, Ban hộ tự chùa Long Phước mời thượng toạ Huệ Hà - 慧河 (ở chùa Ấn Quang, Sài Gòn) về làm trụ trì. Thượng tọa Huệ Hà tên thật là Nguyễn Giang Hà, sinh năm 1936 tại Phú Lộc (Sóc Trăng). Ông xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo có truyền thống cách mạng. Năm 3 tuổi, cha và anh trai hy sinh vì cách mạng, mẹ ông đã dẫn ông vào chùa Long Phước làm công quả. Năm 7 tuổi, ông xuất gia với thượng tọa Chơn Pháp. Trong thời gian làm trụ trì, thượng tọa Huệ Hà đã tạo được nhiều thành tích:

- Năm 1975, ông cho trùng tu Tổ đường và Hậu đường.

- Năm 1996, ông cho xây tường rào bao bọc quanh chùa với chiều dài hơn 100 m cao 2 m, bên trong lại xây dựng một hoa viên có hòn giả sơn, hồ bán nguyệt và tượng Quán Thế Âm.

- Năm 1997, ông đã từng vận động hơn nửa tỷ đồng cứu trợ khắc phục hậu quả cơn bão số 5.  

- Năm 1998, ông cho àm một con đường trải đá xanh từ lộ cái vào chùa hơn 200 m và trùng tu con đường công cộng dẫn xuống xóm từ bờ xáng để người dân đi lại dễ dàng.

- Năm 2001, ông cho xây dựng giảng đường có sức chứa hơn 100 người, làm nơi học tập cho Tăng Ni trong các mùa an cư kiết hạ, nơi giảng dạy lý tưởng cho trường Trung cấp Phật học tỉnh Bạc Liêu.

- Tháng 04-2003, ông được Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong giáo phẩm hoà thượng. Hiện nay hoà thượng Huệ Hà là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Bạc Liêu.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt