<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Mai Dị

Mai Dị là Chiến sĩ phong trào Duy Tân, sinh năm 1880. Trong Quốc triều hương khoa lục ghi ông sinh vào năm 1884 tại làng Nông Sơn, tổng An Thái, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Cẩm Hà, TX Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thuở nhỏ học trường Đốc Quảng Nam, năm 1906 đậu Cử nhân tại Trường thi Thừa Thiên cùng khoa với Nguyễn Bá Trác (1881-1945).

Sau khi thi đỗ, ông cùng tham gia phong trào Duy Tân với các đồng chí... dạy học tại Nghĩa thục Diên Phong, rồi được cử du học Nhật Bản với Nguyễn Bá Trác (sau NBT về đầu thú làm việc cho Pháp), nhưng ông vì hoàn cảnh gia đình không đi được. Từ đó ông tiếp tục dạy học tại các Nghĩa thục.

Năm 1908, phong trào Duy Tân bị khủng bố trắng, ông cùng các đồng chí bị Pháp và Nam triều bắt giam ở nhà lao Hội An, đến năm 1911 được trả tự do.

Năm 1916, vì Pháp nghi có tham gia cuộc khởi nghĩa Duy Tân nên bị bắt một lần nữa mãi đến năm 1919 mới được ra khỏi nhà tù thực dân.

Năm 1920, sau khi Nguyễn Bá Trác làm Tá lý bộ Học ở Huế, Trác thay mặt triều đình mời ông và các cựu tù năm 1908 (Lương Thúc Kỳ, Phan Thúc Duyện, Huỳnh Thúc Kháng... - Theo Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, NXB Văn hóa, 2001) tham gia biên soạn một số sách cho chính phủ Nam triều tại Huế.

Năm Mậu Thìn (1928), ông bị bệnh lao qua đời tại Huế, thi hài ông được an táng tại núi Ngự Bình; mãi đến năm 1989 (ngày 22 tháng 5), chính quyền huyện Điện Bàn và con cháu cải táng về làng cũ Nông Sơn.

Các tác phẩm của ông: (hợp soạn cùng Lương Thúc Kỳ, Trần Nhã Diệm): Thừa Thiên đăng khoa; Thừa Thiên địa lí; Hán Việt tự điển. Các tác phẩm còn ở dạng bản thảo

Thơ ca ông còn truyền tụng một số bài, như bài thơ chữ Nôm sau:

Xu thời

Xấu đất nên chi chẳng nắn nồi,

Đi đâu cũng gặp cái lôi thôi!

Thà không thì nói rằng không phải,

Cứ nói làm chi chuyện vuốt đuôi!

(Truyền văn cho bài này lúc Nguyễn Bá Trác được thăng quan, Mai Dị tặng bài thơ trên, ám chỉ việc ông Trác xu phụ nhà cầm quyền.)

Hoặc câu đối chữ Hán tự bạch về cá nhân mình trước khi về thế giới bên kia.

“Bất tử ư trường thương lợi kiếm, khước thọ chế tiểu vi trùng, khả lân tại âm thạnh dương suy, hữu hạn tiền thân hoàn tạo hóa;

Thử sanh nhược thương cẩu bạch vân, an năng cửu dư dương thế, thán Hán giả gia bần thân lão, vô cùng hậu sự phú không minh.”

Nghĩa:

Không chết vì thương dài gươm bén mà chết vì những con vi trùng nhỏ, khá thương thay [do] âm thạnh dương suy [mà] cái thân hữu hạn này phải trả về với tạo hóa.

Cuộc đời luôn thay đổi như mây trắng hóa thành chó xanh, ai sống lâu trên cõi trần được; nhưng điều đáng buồn là nhà đã nghèo, cha mẹ lại già, mọi việc sau này xin phó mặc cho may rủi!

Cháu ngoại ông là Tăng Xuyên ở Hội An dịch ra thơ lục bát:

Chẳng vì dáo lớn gươm dài,

Con vi trùng nhỏ lại hoài thân đi.

Nực cười âm thạnh dương suy,

Tấm thân tiền định cũng qui đất trời!

Cuộc đời như áng mây bay,

Thì đâu lưu luyến tháng ngày nhân gian.

Thương mẹ yếu, nhà bần hàn,

Cậy ai mai hậu, lo toan việc nhà!


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt