<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Ngô Quyền

Tiểu sử
 

Ngô Quyền (吳權) là danh tướng, người dựng lên cơ nghiệp nhà Ngô, sinh năm Kỷ Dậu (899), quê ở Đường Lâm, huyện Phúc Lộc, châu Giao sau đổi thành huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Cha là Ngô Môn, vốn là quan mục của châu Đường Lâm trong thời họ Khúc dấy nghiệp và mẹ là bà họ Phạm.

Theo thần tích đền Gia Viên (quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng), ông tổ 4 đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân là người đã từng chiêu mộ được hơn 100 người theo Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp anh hùng của Lý Bí chống quân Lương. Ông lập được nhiều chiến công, được phong làm Thổ tù và được thừa kế tước vị.

Từ nhỏ, Ngô Quyền đã tỏ ra là một người trí dũng song toàn. Ông được cha dạy cho các thuật bắn cung nỏ, sử dụng gươm giáo và binh pháp. Chẳng may, cha mẹ đều mất sớm, vì thế ông phải sớm sống một cuộc sống tự lập đầy vất vả. Lớn lên trong lúc đất nước ta vừa mới giành được quyền tự chủ, Ngô Quyền đã tiếp nối chí của cha ông, đứng ra vận động tập hợp lực lượng giành và giữ quyền tự chủ, sau này trở thành người có thế lực lớn ở vùng Đường Lâm.

Ông là vị tướng tài, được chủ tướng là Dương Đình Nghệ gả con gái là Dương Thị Như Ngọc cho. Dương Đình Nghệ giao cho ông trông coi 3000 quân luyện tập võ nghệ ngày đêm, xây dựng lực lượng. Năm 931, Dương Đình Nghệ cử Ngô Quyền làm tướng tiên phong cùng ông tiến ra Giao Châu đánh đuổi quân Nam Hán và tổ chức phòng thủ thành Đại La. Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ lên nắm chính quyền, Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ giao cho trấn giữ vùng Châu Ái nay là tỉnh Thanh Hóa.

Năm Tân Mão (931) Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày trước nổi lên, mộ quân đánh đuổi Tiết độ sứ của quân nhà Lương rồi tự xưng làm Tiết độ sứ.

Năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn phản bội, giết chết Dương Đình Nghệ, rồi cấu kết với quân Nam Hán. Năm 938, Ngô Quyền tập hợp hào kiệt trong nước tiến ra Bắc, hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng nổi tiếng, đánh bại quân Nam Hán do Hoằng Thao (có sách viết là Hoằng Tháo) chỉ huy, giết chết Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng.

Năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền xưng là Ngô vương còn gọi là Tiền Ngô vương, đóng đô ở Cổ Loa, mở nền độc lập tự chủ cho nước nhà. Năm Giáp Thìn (944), ông mất hưởng dương 45 tuổi, trị nước được 5 năm. Tuy chỉ xưng vương nhưng ông có thể coi là người có công lớn trong việc giành được độc lập cho đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc. Sách Thiền Uyển tập anh gọi ông là Ngô Thuận Đế, có lẽ chỉ là cách tôn lên vì đương thời ông chưa từng xưng đế.

Sau khi ông mất, anh vợ là Dương Tam Kha đã phụ lời ủy thác của ông, cướp quyền con ông là Ngô Xương Văn, gây nên nội biến.

Ngô Quyền qua nhận xét các nhà sử học
 

Các nhà sử học Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đánh giá rất cao công trạng của Ngô Quyền. Trong Đại Việt sử ký toàn thư bản Ngoại kỷ, quyển 5 của Ngô Sĩ Liên đã chép lại lời bình của Lê Văn Hưu về ông như sau:

Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.

Trận Bạch Đằng
 

Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng:

"Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát".

Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị phát lộ. Ngô Quyền dự định nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền địch mắc cạn mới giao chiến.

Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, vùng cửa biển và hạ lưu, cả một đoàn binh thuyền của do Hoằng Tháo chỉ huy vừa vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng.

Quân Nam Hán thấy quân của Ngô Quyền chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể ăn tươi, nuốt sống liền hùng hổ tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân bỏ chạy lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, ông mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Lúc đó Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, còn Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ.

Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Nghe tin Hoằng Tháo tử trận, Nghiễm kinh hoàng, đành "thương khóc thu nhặt quân còn lại mà rút lui" Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược Tĩnh Hải quân. (Đại Việt sử ký toàn thư).

Trận Bạch Đằng đã đi vào lịch sử, trong tâm thức của người Việt Nam, trở thành điểm hội tụ của sức sống dân tộc. Phạm Sư Mạnh - một nhà thơ đời Trần đã từng ca ngợi chiến công trên sông Bạch Đằng như sau:

Vũ trụ kì quan Dương Cốc nhật,

Giang san thanh khí Bạch Đằng thâu.

Tạm dịch:

Kì quan của vũ trụ là mặt trời lên tại hang Dương Cốc,

Khí thiêng của núi sông đọng lại ở chốn Bạch Đằng.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt