<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Bích Châu

Nguyễn Bích Châu, có sách ghi là Nguyễn Thị Bích Châu hoặc Nguyễn Cơ Bích Châu. Bà là cung phi của vua Trần Duệ Tông (陳裔宗; 1337 - 1377).

Bà quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Bà là con gái của đại thần Nguyễn Tướng Công, một vị quan triều Trần rất mực thanh liên và mẹ là Phạm Phu Nhân. Từ nhở bà được cha mẹ dạy dỗ rất chu đáo nên khi 13 tuổi, Bích Châu đã thông thạo “Tứ Thư Ngũ Kinh”.

Năm Quý Sửu (1373), bà được vua Trần Duệ Tông tuyển làm cung phi. Bà nổi tiếng là người tài sắc vẹn toàn, giúp vua lập ra nhiều kế sách trong việc trị nước an dân.

Tương truyền: Một đêm Trung thu, vua Trần ra một câu đối:

秋天畫閣掛銀燈,月中丹桂.

Thu thiên họa các quải ngân đăng, nguyệt trung đan quế.

Trời thu gác tía treo đèn bạc, quế đỏ trong trăng.

Bà ung dung đối lại:

春色莊苔開寶鏡,水底芙蓉.

Xuân sắc trang đài khai bảo kính, thủy để phù dung.

Sắc xuân đài trang mở gương báu, phù dung đáy nước.

Vua ngợi khen và ban cho bà một đôi hoa tai vàng nạm ngọc hình rồng leo (ngọc long kim nhĩ), từ ấy đặt hiệu cho bà là Phù Dung.

Khi ấy chính sự đổ nát, bà thảo một bản Kê Minh thập sách dâng lên vua. Sau đây là bản dịch:

“Trộm nghĩ: Dời củi khỏi bếp lò, phải lo trị trước khi chưa loạn; Lấy dâu ràng cửa tổ, ở hồi yên phải nghĩ lúc nguy.

Vì nhân tình dễ đắm cuộc yên vui; Mà thế đạo khó được thường bình trị.

Cho nên Cao Dao ngày trước đã ca ngợi, rồi dâng lời can chớ biếng chớ hoang; Giả Phó từng đã thở dài, ấy chính vào lúc thái bình thịnh trị.

Chính bởi yêu vua mà lo ngăn trước, phải đâu khác chúng để khoe tài.

Thần thiếp Bích Châu này, lúc nhỏ sinh nơi nghèo hèn, lớn lên được vào cung cấm.

Cuộc yến tiệc thường được ơn ban, mắt long nhan bao lần soi tới.

Vá áo xiêm vua Ngu, dám đâu sánh người nam tử;

Trút trâm như bà Khương, thiếp xin làm trước đình thần.

Kính dâng mười sách, mong được một điều:

Một là bền gốc nước, bỏ điều tàn bạo thì lòng người được yên.

Hai là giữ nếp xưa, bỏ phiền nhiễu thì kỉ cương không rối.

Ba là đè kẻ lộng quyền để trừ mọt nước.

Bốn là thải bọn nhũng lại để bớt hại sinh dân.

Năm là mong chấn hưng Nho phong, khiến lửa đuốc sáng soi cùng nhật nguyệt.

Sáu là xin cầu lời nói thẳng để người được bàn bạc khắp nơi nơi.

Bảy là tuyển quân nên tìm sức mạnh hơn vóc người.

Tám là kén tướng nên chọn thao lược hơn là gia thế.

Chín là khí giới cần bén sắc, chứ đừng chuộng hoa hòe.

Mười là trận phép, cốt tề chỉnh chứ không cần đẹp mắt.

Xét mấy điều ấy đều rất thiết thời. Dám dâng lên tấm lòng trung thực, mong nhận cho lời nói quê mùa.

Bỏ điều dở mà làm điều hay, xin bệ hạ lượng nghĩ.

Nước được trị, dân được yên, thiếp mong lắm vậy”.

Vua xem qua có lời khen, rồi thôi không đem áp dụng những điều bà đã nêu. Chính sự vẫn rối nát. Những điều Nguyễn Bích Châu viết trong Kê minh thập sách thì không phải vua và nhiều người khác không biết. Thế nhưng cái đáng trọng là dám nói thẳng, dám xả thân khi cần thiết.

Đến năm Đinh Tỵ (1377), Duệ Tông thân chinh Chiêm Thành, bà có dâng biểu can ngăn, vua vẫn không nghe. Chiến thuyền đến cửa bể Kỳ Hoa (nay là Kỳ Anh), tỉnh Nghệ An vua nghe lời mê tín tế thần, bà gieo mình xuống bể làm vật hy sinh. Duệ Tông có làm bài văn tế bà, và sau đó tử trận.

Gần đúng một thế kỷ sau, năm Canh Dần (1470), khi vua Lê Thánh Tông trên đường đánh quân Chiêm Thành, qua biển Kỳ Hoa, được Bích Châu báo mộng, kể lể sự tình, dâng ngọc minh châu tên là Triệt hải, soi thấu cả nơi âm u. Vua Lê Thánh Tông bèn sai thị thần là Nguyễn Trọng Ý viết một bức thư trách Quảng Lợi Vương là thần cai quản đô đốc Nam Hải, kẹp vào đầu tên bắn ra biển. Lát sau, thi hài của nàng Bích Châu nổi lên, vẻ đẹp vẫn y nguyên, hương tỏa ngát thơm, nhan sắc vẫn như thuở bình minh. Vua cho mai táng theo lễ đối với hoàng hậu, sai lập đền thờ và phong thần là "Chế Thắng" nên đền này được gọi là "Chế Thắng phu nhân từ".

Vua lại ngự chế một bài thơ, đề ở tường bên trái của đền. Ðề xong, chỉnh đốn quân đội lên đường. Quân đi đến đâu, gió thu bẻ cành, thái sơn đè trứng, bắt sống tướng giặc, hát khúc khải hoàn. Trên đường trở về, đến đền thờ Chế Thắng, hồi tưởng việc xưa, ngẫm tới chuyện nay, vua Lê Thánh Tông ngậm ngùi than rằng: "Quốc gia hưng vượng tất có điềm lành, quốc gia suy đồi, tất có điềm dữ. Ðiềm lành hay điềm dữ, thật có liên quan đến đức của ông vua tốt hay xấu".

Ðền thờ của Nguyễn Bích Châu được lập từ thời vua Lê Thánh Tông thế kỷ XV, được sửa sang, tôn tạo qua nhiều thời kỳ, nổi tiếng linh thiêng. Hằng năm, cứ vào ngày 12 tháng hai âm lịch, được coi là ngày giỗ của bà, dân làng mở hội lớn, khách thập phương đến rất đông.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt