<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Cao

Chí sĩ Nguyễn Cao có tên đầy đủ là Nguyễn Thế Cao, hiệu Trác Hiên, Cách Pha, Trác Phong, sinh năm Đinh Dậu (1837) tại làng Cách Bi, tục gọi là làng Gạch, xã Cách Bi, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh (nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Vì từng giữ chức Tán Lý quân vụ chống Pháp, nên thường gọi là Tán Cao.

Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, khoa bảng: thân phụ là Nguyễn Thế Hanh từng đỗ đầu thi Hương, làm Tri huyện các huyện Thạch An, Tiên Minh, Thủy Đường. Thân mẫu là Nguyễn Thị Điềm thuộc dòng họ võ quan Nguyễn Đức quê ở Quế Võ.

Cha mất sớm năm ông mới lên 4 tuổi. Mẹ ông bấy giờ mới ngoài 20 tuổi, có nhan sắc, nên một hôm Lý trưởng làng Cổ Bi đón đường chọc ghẹo thô bỉ. Bà căm giận nhưng cố nén lòng, nhẫn nhục nuôi con đến lên 10. Đến ngày giỗ chồng đông đảo họ hàng, bà kể chuyện tên Lý trưởng thô bỉ bức bách bà, rồi cầm dao đâm cổ tử tiết. Mọi người đều cảm phục và ngỡ ngàng.

Nguyễn Cao được họ hàng tận tình giúp đỡ, nuôi cho ăn học. Năm Đinh Mão (1867) ông đỗ Giải nguyên và được triều đình nhà Nguyễn sơ bổ Tri huyện Yên Dũng. Rồi thăng lên Tri phủ Lạng Giang, sau làm Bố chính Thái Nguyên. Khi đương chức ông xin triều đình cho dân khai khẩn ruộng đất hoang ở vùng Nhã Nam, Phú Bình lập nhiều trang ấp, làng xóm. Vì vậy nhân dân một số làng xã ở đây đã thờ ông làm Thành hoàng làng.

Khi ông ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn thì cũng là lúc thực dân Pháp tiến hành xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội tiến hành đánh mở rộng ra các vùng ngoại thành, trong đó có Gia Lâm. Nguyễn Cao cùng với Ngô Quang Huy đã tập hợp nghĩa quân phối hợp với Phạm Thận Duật, Trương Quang Đản bao vây thành Hà Nội, đánh bật đồn bốt của Pháp tại Gia Lâm ngày 4-12-1873, sau đó kéo quân về Siêu Loại. Tiếng súng chống xâm lược Pháp của ông không chỉ mở đầu cho phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược ở tỉnh Bắc Ninh, mà còn góp phần dấy lên phong trào yêu nước chống Pháp của các sĩ phu và nhân dân nước ta lúc bấy giờ.

Năm 1882, Pháp tiến đánh vùng Bắc Kỳ lần thứ hai, Nguyễn Cao đem quân về đánh tại Gia Lâm và sau đó đem quân bao vây thành Hà Nội. Đến ngày 27-3-1883, ông đem quân đánh vào phố Hàng Đậu, Cửa Đông thành phố Hà Nội, sau đó rút quân về phía bắc sông Hồng. Ngày 15-5-1883, Nguyễn Cao chỉ huy nghĩa quân đánh một trận lớn tại Gia Lâm. Trận này ông bị thương nặng, nhưng vẫn giữ ý chí chiến đấu. Ông tiếp tục chỉ huy nhiều trận đánh địch ở các nơi như Phả Lại, Yên Dũng, Quế Dương, Võ Giàng, Từ Sơn, Thuận Thành.

Năm 1884 khi thành Bắc Ninh thất thủ, Nguyễn Cao rút quân về thành Tỉnh Đạo, phối hợp với Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy lãnh đạo phong trào “Tam tỉnh Nghĩa Đoàn” hoạt động rộng khắp trên các địa bàn Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây.

Ngày 27-3-1887, căn cứ Bãi Sậy bị bao vây, Nguyễn Thiện Thuật phải bỏ chạy sang Trung Hoa sau khi bị chiến thuật hoả công của Hoàng Cao Khải. Nguyễn Cao trốn về ngụ tại làng Kim Giang, phủ Ứng Hoà (nay là làng Kim Giang, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội), ở đây ông mở trường dạy học. Có người báo chỗ ở của ông cho Pháp biết, ông bị bắt. Pháp dùng các thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, nhưng đều bị Nguyễn Cao cự tuyệt. Pháp thấy vậy, lại dùng sự tra tấn dã mạn để doạ ông, khí tiết của người nghĩa sĩ không lung lạc, ông lại mỉm cười khinh thị mà bảo rằng: "Tao có sợ chết đâu. Để tao tự xử trước cho chúng bay xem". Nói xong, ông đã tự rạch bụng để tuẫn tiết. Không khuất phục được ông, ngày 14-4-1887, Pháp đã đem ông ra chém đầu tại vườn Dừa (Hà Nội).

Sau khi hay tin Nguyễn Cao chết, người đương thời làm thơ khóc ông, có câu:

Thệ tâm thiên địa phi trường xích,

Thiết xí giang san mãn thiệt hồng!

Cụ Phan Bội Châu dịch ra như sau:

Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ,

Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông!

Chí sĩ Dương Bá Trạc cũng có làm một bài thơ để tỏ lòng tiết nghĩa của một chiến sĩ Cần vương - Nguyễn Cao như sau:

Trời đất chông gai hết vẫy vùng,

Còn đem một chết tạ non sông.

Kinh luân cuốn lại con dao bạc,

Danh tiết phơi ra giọt máu hồng.

Hồn nước gọi về dân Ngũ Tĩnh,

Tiếng thơm cùng thọ miếu Song Trung.

Chết mà được việc hơn bao sống,

Gian hoá nên ngay, nhát hoá cùng.

Nguyễn Quang Bích có bài thơ khóc điếu ông, khi hay tin ông hi sinh:

臨危見節自從容,

羞對收生語更雄.

罵口為能當一死,

掖腸弒問熟非忠.

解元聲价文章外,

不朽精靈宇宙中.

包鳥尚修他日事,

崢嶸義烈匹狂戎.

Phiên âm:

Lâm nguy kiến tiết tự thung dung,

Tu đối thâu sinh ngữ cánh hùng.

Mạ khẩu vị năng đương nhất tử,

Dịch trường thí vấn thục phi trung.

Giải nguyên thanh giá văn chương ngoại,

Bất hủ tinh linh vũ trụ trung.

Bao điểu thượng tu tha nhật sự,

Tranh vanh nghĩa liệt thất cuồng nhung.

Dịch nghĩa:

Nguy nan xử trí vẫn thung dung,

Chê kẻ tham sinh giọng nói hùng.

Mắng giặc người xưa tròn phận chết,

Moi lòng ông cũng tỏ gan trung,

Biết bao thanh giá ngoài khoa bảng.

Còn mãi tinh thần khoảng núi sông.

Quân giặc đứng trông đều hoảng sợ,

Mai này nước sẽ biểu dương ông.

Nguyễn Cao không chỉ là một người yêu nước, ông còn là nhà thơ, nhà văn hóa lớn. Ông để lại nhiều tác phẩm thơ văn và được các nhà nghiên cứu đánh giá là xứng đáng vào hàng ngũ của dòng văn thơ yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ thứ XIX.

Nguyễn Cao là một người yêu nước. Văn bia “Văn chỉ” do chính ông soạn văn vào năm 1876 và cho khắc vào năm 1877 hiện còn lưu giữ được ở đình làng Cách Bi, đã cho biết khá rõ về ông. Ông là một trong số những người có công di dời làng từ ngoài đê vào trong nội đê để tránh lụt lội và là người cho xây văn chỉ của làng để đề cao truyền thống hiếu học, đề ra thuần phong, mỹ tục cho quê hương.

Tên ông được đặt cho một trong những đường phố lớn của thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Bắc Ninh; nhiều trường học đã mang tên ông. Đối với nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Cao là biểu tượng của tinh thần yêu nước, thương dân và đánh giặc bảo vệ quê hương đất nước.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt