<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Khu di tích Nguyễn Thái Học

Sơ lược
 

Khu di tích lịch sử Nguyễn Thái Học nằm trong khuôn viên của công viên Yên Hoà, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái.

Đặc điểm
 

Ban đầu, khu mộ nằm ở khu vực trong cùng của nghĩa trang thị xã Nghĩa Lộ (trước kia thuộc tổng Bách Lẫm, phủ Trấn Yên, tỉnh Yên Bái). Sau năm 1954, địa phương tập trung tất cả hài cốt của dân công, bộ đội hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp vào khu vực này để xây đài, bia mộ. Khu di tích Nguyễn Thái Học được khởi công xây dựng vào dịp kỷ niệm 70 ngày các anh hùng hi sinh (17/6/2000).

Khu di tích lịch sử Nguyễn Thái có diện tích khoảng 10.391m2 bao gồm khu lăng mộ, khu tượng đài, bia tưởng niệm, khu nhà đón khách và khuôn viên cây cảnh.

Tượng đài khu di tích Nguyễn thái Học. Ảnh: yenbaigov.

Phần chính của khu di tích là khu mộ có diện tích 300m2 bao quanh là 17 cột trụ, mỗi cột có chiều cao 5m. Các cột trụ được nối bằng một vòng tròn khuyết tượng trưng cho 17 liệt sỹ bị thực dân Pháp xử chém trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái.

Khu mộ có 2 ngôi mộ được xây bằng gạch ốp lát, nhà bia tưởng niệm được làm từ đá cẩm thạch khắc tên 17 liệt sỹ, phủ nhũ vàng. Mái nhà bia được gắn ngói mũi hài trên bê tông nghiêng. Phần tượng đài có diện tích chính là 56m2 gồm 5 nhân vật: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Nguyễn Thị Giang và Ngô Hải Hoàng. Nhóm tượng đài có chiều cao khoảng 6m với chất liệu bê tông phủ kẽm.

Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930  nằm trong khuôn viên công viên Yên Hoà (rộng 30 ha), bên cạnh đại lộ Nguyễn Thái Học.

Du khách có thể đi đến khu di tích bằng 3 loại hình giao thông là đường bộ, đường sắt và đường thuỷ.

Ngày 5/3/1990, khu di tích Nguyễn Thái Học được Bộ văn hoá đã công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo quyết định số 177 VH/QĐ.

Lịch sử
 

5 nhân vật của tượng đài gồm:

Lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng Nguyễn Thái Học, sinh năm 1903 tại làng Thổ Tang, Phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Yên). Ông là người thứ 17 bước lên máy chém của Pháp.

Ông Nguyễn Khắc Nhu (cụ xứ Nhu), sinh năm 1882, người làng Song Khê, tổng Yên Dũng (Bắc Giang). Tuy không có tên trong những người bị hành quyết tại Yên Bái nhưng ông Nguyễn Khắc Nhu có vai trò quan trọng trong Việt Nam Quốc dân đảng, ông là người chỉ huy cuộc bạo động vũ trang ở các tỉnh miền ngược, trong đó có Yên Bái. Ông Nguyễn Khắc Nhu bị thương nặng trong trận đánh ở Hưng Hoá và Lâm Thao, sau khi bị Pháp bắt giam tại đồn Hưng Hoá, ông đã tự tử.

Ông Phó Đức Chính, lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng, sinh năm 1910 tại làng Đa Ngưu, tổng Văn Giang (Hưng Yên). Phó Đức Chính là người thứ 12 bước lên máy chém.

Ông Ngô Hải Hoằng (cai Hoằng), gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng năm 1928 ở Tuyên Quang. Ông là một hạ sĩ quan trong đội lính khố đỏ của Pháp, đóng quân tại Yên Bái và giữ chức cai đội. Ông là một trong 4 người bị tử hình ngày 8/5/1930.

Bà Nguyễn Thị Giang, người vừa là đồng chí vừa là vợ của nhà chí sĩ Nguyễn Thái Học, sau khi Nguyễn Thái Học bị xử chém, bà đã tự vẫn theo chồng.

Năm 1930, Pháp đã tổ chức 2 đợt xử chém 17 nhân vật quan trọng của Việt Nam Quốc dân đảng tại khu lính tập (hiện nay là khu vực nhà máy chè Yên Bái). Đợt 1 ngày 8/5/1930 có 4 người gồm: Đặng Văn Tiệp, Đặng Văn Lương, Nguyễn Thanh Thuyết, Ngô Hải Hoằng. Đợt 2 vào ngày 17/6/1930 có 13 người gồm các ông: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Bùi Văn Chuân, Đào Văn Nhít, Nguyễn Như Liên, Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Tiềm, Ngô Văn Du, Hà Văn Lao, Đỗ Văn Tư, Nguyễn Văn Cửu, Nguyễn Văn Thịnh.

Sau khi xử tử những nghĩa sĩ, Pháp đã đào hố chôn tập thể trong nghĩa địa và canh gác cẩn mật.


©2023 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt