<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Hang
An Hải - Lý Sơn - Quảng Ngãi

Vị trí

Chùa Hang thuộc xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Chùa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Gọi là chùa Hang vì chùa nằm trong một hang động lớn nhất trên đảo Lý Sơn. Muốn đến chùa phải men theo con đường độc đạo cheo leo vách núi sát mép biển lên cao dần rồi xuống hơn 40 bậc mới đến đươc.

Hang

Hang đá này được tạo thành từ một vách đá dựng đứng, cao gần 20m ở ngọn núi Thới Lới, do bị nước biển xâm thực trong thời kỳ biển tiến. Hang có bề ngang 30m, ăn sâu trên 25m vào núi theo kiểu hàm ếch ngoài cửa cao 15 m, thấp dần vào phía trong. Trong hang có những phiến đá to được dùng làm ghế và giường rất tiện lợi. Trước cửa hang là những cây bàng phễu cổ thụ, cành lá xum xuê. Hai bên hang có giếng, xung quanh cây cối xanh tươi.

Chùa

Chùa Hang do các vị Tiền hiền họ Trần ra khai khẩn hoang đảo, mở đất dựng làng Lý Hải, Lý Vĩnh xưa dựng vào thời vua Lê Kính Tông, cách khoảng hơn 300 năm. Chùa Hang là nơi thờ Phật (nên còn có tên chữ là Thiên Khổng Thạch Tự) kết hợp thờ 7 vị tiền hiền làng Lý Hải (An Hải phường)...Trong chùa có bàn thờ Phật Di Đà, Như Lai, Di Lặc, Sư Tổ Đạt Ma và các sư tổ trụ trì. Các bệ đá thờ được tạo từ bệ đá thiên nhiên càng tăng thêm vẻ thâm nghiêm, huyền bí.

Trước sân chùa, một tượng Quan Âm cao hơn 7m đứng trên bệ giữa hồ sen nhìn ra biển cả mênh mông. Quanh đó, những cây bàng biển cổ thụ hàng trăm năm tuổi gốc rễ sù sì, cành lá sum suê, xòe tán xanh che bóng mát rượi. Trước cửa chùa là những bãi đá san hô được sóng đẽo gọt. Sát mép biển, bãi cát vàng sạch tinh lấp lánh vỏ sò, vỏ ốc. Cạnh chùa Hang về phía Nam còn nhiều hang động to nhỏ, cao thấp khác nhau, muôn hình kỳ thú. Chùa là di tích kiến trúc nghệ thuật tôn giáo vừa là thắng cảnh đẹp trên đảo Lý Sơn.      


Chùa Hang - Đồng Hỷ - Thái Nguyên

Sơ lược
 

Chùa Hang là thắng cảnh thuộc thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chùa Hang cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 2 km về phía Tây Bắc, theo hướng quốc lộ 1B (tuyến Thái Nguyên - Lạng Sơn).

Lịch sử
 

Trong Đại Nam nhất thống chí có ghi, núi Chùa Hang được gọi là núi đá Hóa Trung hay núi Long Tuyền "ở cách huyện Động Hỷ (Đồng Hỷ) 20 dặm về phía Tây (vào thế kỷ 19, huyện lỵ Đồng Hỷ đặt ở xã Huống Thượng, huyện Đồng Hỷ ngày nay) trên núi có động, trong động có cột đá, phía trước phía sau đều có cửa, người ta nhân đó lấy động làm chùa".

Đặc điểm
 

Chùa Hang (động Tiên Lữ) là một hang lớn nằm trong lòng núi đá, trong lòng hang có những nhũ đá lớn, được đặt tên như: cột trụ chống trời, bụt mọc, hổ chầu, voi phục.

Năm 1859, danh sĩ Cao Bá Quát khi qua đất Thái Nguyên có du ngoạn đến chùa Hang và sáng tác bài thơ nổi tiếng Du Tiên Lữ động.

Hiện nay trên vách của hang còn câu đối chữ Hán:

Phong cảnh thiên nhiên duy đệ nhất

Danh lam nhân tạo thị vô song

(Phong cảnh thiên nhiên đẹp vào bậc nhất, danh lam do con người tạo ra cũng không kém)

Hai bên cửa hang có đôi liễn:

Phong cảnh quang thiên địa

Cương thường tại cổ kim

(Cảnh sắc sáng một vùng trời đất (cũng như) cương thường đạo lý vẫn sáng cả xưa nay).

Hai bên cửa động có tượng hộ pháp ông Thiện cưỡi voi và ông Ác cưỡi hổ, vòm hang mở rộng lô nhô nhũ đá, hình mây vờn trên trần hang, những cột đá 3 người ôm không xuể... trong hang có tượng Phật Adiđà cao trên 3 m, ngự trên toà sen, hai tay xếp bằng kết ấn thiền định.

Du khách muốn đến chùa Hang có thể xuất phát từ thành phố Thái Nguyên, đến ngã tư Chùa Hang, rẽ trái 200 m sẽ tới quần thể di tích thắng cảnh chùa Hang.

Hàng năm vào ngày 20 tháng giêng âm lịch, chùa Hang có lễ hội với các trò chơi dân gian truyền thống của người dân địa phương.

Di tích thắng cảnh chùa Hang bao gồm một ngôi chùa trong lòng hang và 3 ngọn núi đá dài khoảng 1.000 m nối tiếp nhau như hình yên ngựa toạ lạc ngay tại trung tâm thị trấn Chùa Hang. Năm 1999, động chùa Hang đã được xếp hạng danh thắng cấp Quốc gia.


thôn Quán La, xã Xuân La, quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội

Chùa Hang là tên gọi khác của chùa Khai Nguyên. Xem thêm chùa Khai Nguyên.


Mỹ Hoà - Phù Mỹ - Bình Định

Chùa Hang thuộc địa phận thôn Hội Khánh, xã Mỹ Hoà, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chùa còn có tên chữ là Thạch Cốc Tự, Thiên Sanh Thạch Tự. Đây là danh thắng nổi tiếng với cảnh trí thiên nhiên thanh tú. Chùa vốn là hang động thiên nhiên có chu vi 76 m, hang nằm ở lưng chừng núi, mặt hướng về phía Ðông và có đường thông lên núi và ra biển.

Ngay trên vòm cửa có một tảng đá cong cong hình mu rùa ở mặt trên và tương đối bằng phẳng ở mặt dưới, dày tới gần 2m chạy dài đến hơn 10m, nhô ra phía trước 5 - 6m, tạo thành một mái che tự nhiên. Đi vào trong, lòng hang rộng chừng 5m, sâu khoảng 20m. Bàn thờ Phật được đặt trang trọng ở phần giữa hang. Trong cảnh tĩnh mịch, âm u, hang biến thành một Phật đường thâm nghiêm, huyền bí.


Tân Lập - Lục Yên - Yên Bái

Vị trí
 

Chùa Hang tọa lạc tại làng Úc, xã Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chùa được xây dựng trong một hang núi thiên nhiên khá đẹp. Hang nằm ở lưng chừng núi Thâm Then (núi Chùa), cao khoảng 60m. Lòng hang dài 23m, cửa hang cao 11m mở về phía Nam, trông ra sông Chảy.

Những phát hiện khảo cổ học
 

Từ năm 1971, giới nghiên cứu đã tìm thấy ở đây một số di vật độc đáo bằng đất nung có chạm hình rồng và tiên nữ, vết tích của một bệ thờ Phật thuộc nghệ thuật thời Trần hiếm có ở Yên Bái. Tháng 9/1997, Bảo tàng tỉnh Yên Bái phát hiện hơn 80 di vật khác với các hình chạm trổ khá phong phú, đặc biệt là hình các tiên nữ, có khuôn mặt phúc hậu, phục sức cầu kỳ, đang trình diễn vũ điệu dâng hoa. Một số tiên nữ hướng mặt về phía bên phải, một số khác hướng mặt về phía bên trái. Điều đó chứng tỏ nhóm tiên nữ ở chùa Hang được bố trí chạy dài.

Số lượng các mảnh có trang trí hình rồng được tìm thấy nhiều hơn. Rồng có phần mào lửa sắc, dài, thân mập, uốn rất nhiều khúc mềm mại, mang đặc trưng của mô tip rồng thời Trần. Tiếp đó còn tìm thấy 3 con chim thần (garuđa), trong đó có 2 con còn khá nguyên vẹn. Đây là hình tượng những con chim có mỏ to khoẻ và đôi cánh bay dang rộng. Kèm theo đó là các yếu tố khác với loài chim, như cặp tai to, có đeo khuyên tròn, ngực nở, bụng tròn căng có vận xiêm y nhiều lớp, 2 tay khuỳnh ngang, 2 chân gập chống ở tư thế nâng đỡ đài sen. Các bàn chân, bàn tay chim thần đều có viên ngọc tròn.

Sư tử cũng là một đề tài mới phát hiện. Rất tiếc là số mảnh tượng sư tử tìm thấy ít và bị vỡ quá nhỏ. Nhưng đã có thể thấy được khá rõ một số chi, đầu sư tử như răng, hàm, mắt, má và một phần chân có móng nhọn. Đề tài hoa lá là phong phú nhất với hoa sen, hoa cúc, lá đề. Hoa sen được chạm khá đơn giản, các cánh sen đều có phần mũi nhọn, phần thân bè mập, dáng khoẻ khoắn. Có loại cánh sen kích thước lớn (cao 16cm), có loại kích thước nhỏ (cao 6cm). Hoa cúc thường thể hiện thành các băng hoa dây uốn lượn hình sóng, có băng được bố trí chạy dọc theo các ô ngăn cách các tiên nữ, có băng chạy dọc theo các đường diềm trên các bậc giật cấp của bệ thờ. Với các đồ án này, lá cúc, hoa cúc thường được chạm với đường nét nhỏ, tinh tế hơn hoa sen. Tuy nhiên, cũng có vị trí, loại hoa văn này mang tính cách điệu rất cao, đường nét chạm mập, trong mỗi khúc uốn chỉ có một chiếc lá cúc kích thước lớn. Tất cả đều cùng niên đại Trần thế kỷ XIII – XIV. Đây là những di vật quý hiếm cách nay bảy, tám trăm năm còn được lưu giữ tại một hang núi cao tỉnh Yên Bái.


thị trấn Châu Thành - huyện Châu Thành - tỉnh Trà Vinh

Tổng quan
 

Chùa Hang có tên Khmer là Kompông Chrây, có nghĩa là Bến Cây Ða, tọa lạc tại khóm 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Nhân dân quen gọi là chùa Hang vì cổng chùa được thiết kết có hình dạng giống như một cái hang. Chùa có niên đại hơn 350 năm. Từ chợ Trà Vinh, xuôi theo đường Điện Biên Phủ chừng 7 cây số, qua cống ngăn mặn Tầm Phương là đến chùa.

Lịch sử
 

Chùa Hang Trà Vinh được thành lập năm 1637 và đã trải qua 22 đời sư trụ trì. Trụ trì hiện nay là sư cả Thạch Suông, đời thứ 23. Theo lời kể của sư cả, ngày xưa nơi đây là một bến sông, các phương tiện tàu thuyền thường giao thương qua lại, phía đầu bến có một cây đa rất to. Thấy mảnh đất lành, các bậc tiền bối đã chọn làm nơi dựng chùa tu học. Năm 1986, trong chiến dịch Mậu Thân, chùa bị bom đạn tàn phá nặng nề. Năm 1977, sư Thạch Suông về chùa. Từ đó đến nay, qua gần chục lần trùng tu, ngôi chùa trở nên khang trang, bề thế.

Kiến trúc
 

Chánh điện chùa Hang - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chùa tọa lạc trong khuôn viên có diện tích hơn 10 ha, trong đó một nửa diện tích là rừng tự nhiên với nhiều cây cao rậm rạp. Cổng chính hướng ra phía bờ sông, đề tên chính thức của chùa là Kamponynixrdle. Hai bên cổng chính hai tượng Yak to bằng người thật. Yak là chằn tinh, mắt lồi, nanh dài, mặt áo giáp, cầm gậy, rất hung ác nhưng được Phật cải hóa, cho làm bảo vệ. Cổng phụ nằm ven tỉnh lộ 36, xây dựng vòm cuốn, tường rất dày, có hình dạng giống như cái hang, nên người ta quen gọi là chùa Hang.

Sân chùa Hang trước kia có đàn dơi đông vô kể. Tết Mậu Thân (1968), bom đạn đã làm chùa hư hại nặng, đàn dơi khiếp đảm bay mất. Ngày nay, sân chùa lại là nơi trú ẩn của đàn cò với hàng ngàn con, mỗi chiều đậu trắng cây. Cảnh này khiến người ta dễ liên tưởng đến câu nói quen thuộc của người Việt: "Đất lành chim đậu".

Chánh điện chùa tọa lạc trên nền cao 3 m, có nhiều bậc cấp dẫn lên, được trang trí lộng lẫy với nhiều hoa văn, họa tiết. Bên trong chánh điện là hai hàng cột cao lớn uy nghi. Mái chánh điện được lợp thành nhiều lớp chồng lên nhau làm nên khoảng không gian cao vút, đỉnh nhọn như một chóp tháp. Giữa chánh điện là bàn thờ với tượng Phật tổ rất lớn đặt trên cao, phía dưới là những tượng Phật nhỏ hơn trong nhiều tư thế khác nhau. Cả ngôi chính điện được trang trí theo mô típ kiến trúc cổ ảnh hưởng nền văn hóa Ấn Độ, lộng lẫy và nổi bật giữa rừng cây cổ thụ với không gian thoáng mát.

Cột cờ trước chánh điện chùa có cấu trúc tượng hình rắn thần Nara 7 đầu tượng trưng cho 7 ngày 7 đêm chuyên tâm bảo vệ Phật tổ ngồi tịnh tâm, thuyết pháp đến thành chánh quả. Đầu rắn quay nhiều hướng nhưng đuôi rắn hòa quyện vào nhau thể hiện sự sinh tồn.

Chùa có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Khmer. Nhà chùa đảm nhiệm cả phần giáo dục đạo đức, bảo tồn truyền thống văn hóa nghệ thuật. Thanh niên Khmer có vài năm tu ở chùa mới kể như thành nhân, một điều kiện để dễ kiếm vợ. Trong khuôn viên chùa có trường học cho trẻ em rất quy mô, lại có khoảng hai chục nhà sàn nhỏ, mỗi nhà chỉ vừa đủ chỗ cho một người. Lâu lâu cánh đàn ông Khmer vào mỗi người một nhà, ở lại cả tháng để cầu nguyện và làm trong sạch linh hồn. Người Khmer ở Trà Vinh sống đơn giản, ít tham vọng, nhà ở rất đơn sơ nhưng chùa phải kiên cố, to đẹp; có vẻ như hệ tư tưởng Phật giáo đã nhập tâm sâu đậm, sự giải thoát quan trọng hơn kiếp người.

Xưởng điêu khắc ở chùa
 

Điều đặc biệt nhất ở chùa Hang Trà Vinh là trong chùa có hẳn một xưởng thủ công điêu khắc bằng gỗ. Điều này cũng dễ lý giải, bởi chung quanh chùa là cả một rừng cây cổ thụ, trong đó có rất nhiều sao. Theo lời sư cả, trong chiến tranh, nhiều cây sao, dầu ở vườn chùa đã bị chặt hạ vô số kể và hiện còn để lại trong lòng đất nhiều bộ gốc, rễ nguyên vẹn với nhiều hình thù quái dị và kỳ thú. Nếu được các bàn tay tài hoa của các nghệ nhân khắc gỗ điểm xuyết, chắc chắn nó sẽ trở thành những tác phẩm nghệ thuật quý giá. Từ ý nghĩ đó, sư Thạch Suông đã tìm cách mời anh Thạch Buôl (một nghệ nhân điêu khắc gỗ nổi tiếng, quê ở Vĩnh Long) về chùa mở lớp dạy nghề cho các sư sãi và các thanh niên có năng khiếu. Tính đến nay, chùa đã đào tạo trên 20 học viên, trong số đó có những người đã thành thạo, tự chế tác và chứng tỏ có nhiều năng khiếu như anh Sơn Sóc, anh Thạch Khia, sư Thiêng, sư Thanh Tùng...

Những tác phẩm điêu khắc ở chùa rất đa dạng và phong phú như hình con chim đại bàng, chim bồ câu, tượng Phật Di Lặc, heo rừng, bầy nai… Tất cả là những bức tranh về thiên nhiên sống động, dân dã, tươi vui phảng phất nét sống thanh tịnh, yên bình. Đặc biệt có tác phẩm điêu khắc khổng lồ đặt trong phòng khách được làm từ bộ rễ sao có niên đại từ 400 đến 500 năm tuổi. Tác phẩm này là cả một kỳ công của anh Thạch Buôl, phải mất ròng rã hơn 8 tháng trời mới hoàn thành. Nhiều tác phẩm của chùa còn được xuất khẩu sang nước ngoài và tham gia nhiều hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế. Ngoài ra, mỗi năm có hàng trăm du khách nước ngoài tìm đến xưởng điêu khắc gỗ của chùa để được tận mắt chiêm ngưỡng những sản phẩm độc đáo.


phường Núi Sam - thị xã Châu Đốc - tỉnh An Giang

Ngôi chùa có tên chữ là Phước Điền, tọa lạc trên triền núi Sam, thuộc địa phận khóm Vĩnh Tây I, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Nhân dân quen gọi là chùa Hang vì chùa vốn được xây dựng trong một hang đá thiên nhiên. Đây là một quần thể di tích kiến trúc đẹp, có các hang đá thiên nhiên với nhiều huyền thoại hấp dẫn. Mặc dù nằm riêng lẻ trên triền phía Tây núi Sam, cách cụm di tích chùa Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu khoảng một cây số nhưng chùa Hang vẫn được du khách, người hành hương tấp nập đến viếng. Năm 1980, chùa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Lịch sử
 

Chùa Hang do một sư bà lập nên vào năm 1840. Sư bà tên tục là Lê Thị Thơ, sinh năm Mậu Dần (1818), quê quán Chợ Lớn, làm nghề thợ may nên thường gọi là bà Thợ. Sau khi lấy chồng gặp cảnh đời ngang trái, bà từ bỏ cuộc sống đời thường tìm đến núi Sam, vào chùa Tây An xin quy y với pháp danh Diệu Thiện. Tu được một thời gian, nhận thấy chùa Tây An đông người lui tới, bà muốn tìm một nơi yên tĩnh hơn để tu hành. Bà đi lần về hướng Tây gặp hang sâu yên tĩnh, vắng người, rậm rạp cây cối nên ở lại dựng am tu hành. Tương truyền trong hang sâu có cặp rắn rất lớn. Con xanh tên Thanh xà, con trắng tên Bạch xà. Nghe tiếng kinh kệ, hai con rắn bò lên và sau đó được bà Thơ thuần phục. Chúng không hại người mà đêm đêm còn đến nằm khoanh tròn sau lưng bà nghe kinh, ăn đồ chay cúng Phật và trông chừng thú dữ, kẻ gian, bảo vệ sự yên tĩnh cho chốn tu hành. Ngoài ra, sư bà còn thuần phục một con bạch hổ để gác chùa.

Năm 1885, do cảm mến đức độ của sư nữ Diệu Thiện, ông phán Thông (Nguyễn Ngọc Cang) ở Châu Đốc và nhân dân quanh vùng đã tự quyên góp tiền của, xây dựng lại chùa: nền lát gạch tàu, cột bằng gỗ căm xe, kèo rui bằng gỗ thao lao, lợp ngói móc... Năm 1899, sư bà Diệu Thiện viên tịch, chùa gián đoạn một thời gian không ai coi sóc. Đến năm 1937, hoà thượng Thích Huệ Thiện (1904 - 1990) về làm trụ trì, đã cho trùng tu lần thứ hai. Sau khi viên tịch, hoà thượng Huệ Thiện truyền thừa lại cho hoà thượng Thích Thiện Chơn. Năm 1997, hoà thượng Thích Thiện Chơn viên tịch, truyền thừa lại cho hoà thượng Thích Thiện Tài. Năm 1999, hoà thượng Thiện Tài cho trùng tu chùa trên quy mô lớn, tạo thành quần thể kiến trúc hoành tráng như hiện nay.

Kiến trúc
 

Chùa Hang nằm lưng chừng trên núi Sam, cổng chùa nằm dưới chân núi. Trên trụ cổng có bảng đề tên chùa bằng chữ Hán: 福田寺 - Phước Điền Tự. Hai bên có đôi câu đối giải thích ý nghĩa tên chùa như sau:

福德禪門通世界

田家佛道著環球

Phiên âm:

Phước đức thiền môn thông thế giới

Điền gia Phật đạo trứ hoàn cầu

Dịch nghĩa:

Cửa thiền phước đức thông thế giới

Ngã Phật thênh thang khắp hoàn cầu.

 

Từ cổng chùa, theo nhiều bậc thang quanh co, ln khuất giữa những khối đá lớn, lên cao khoảng 300 m là đến chùa. Từ cổng nhìn lên, phía bên trái có hai tòa tháp mới xây kiến trúc hài hoà, chạm khắc công phu, đó là tháp mộ của các vị sư trụ trì chùa. Trên tháp có các câu đối và nhiều bài kệ. Qua khỏi hai tòa tháp, bên trái là Quan Âm Các, bên phải là Địa Tạng Các. Phía sau Quan Âm Các là ngôi mộ của thầy phán Thông, tức ông Nguyễn Ngọc Cang, người đóng góp rất nhiều cho đợt trùng tu lần đầu tiên. Phía sau ngôi mộ này là cổ tháp của Bà Thơ, người sáng lập chùa Phước Điền. Ngôi bảo tháp này được xây dựng năm 1899, mới được tu sửa lại trong thời gian gần đây. Tháp có 6 mặt, trên đó khắc 5 bài kệ và 1 đôi câu đối ca ngợi công đức của sư bà.

Chùa chính chia thành hai khu vực: phần trên là chánh điện thờ Phật, phía sau có hang mãng xà theo truyền thuyết; phần dưới thấp là nơi thờ Tổ và hai dãy nhà sinh hoạt gọi là Đông lang và Tây lang. Bên hông Tây lang có đường dẫn lên hang Bạch Hổ, thờ ông Hổ đã được sư bà thuần phục. Chánh điện có mặt chính 11m, mặt bên 10m, nền cuốn đá xanh cao ráo, tráng xi măng, lát gạch bông, tường gạch hồ vôi ô dước, cột bê tông cốt sắt, lợp ngói đại ống. Chánh điện thờ tượng Phật Thích Ca, hai bên là các tượng Quan Âm, A Di Đà, Đại Thế Chí. Trong chùa có nhiều hoành phi, liễn đối chạm khắc tinh xảo. Phía trước sân chùa có cột phướn cao hơn 20m. Dưới thềm đặt hai tượng sư tử bằng xi măng khá sinh động. Đứng ở đây, khách thập phương có thể nhìn cảnh núi cao, hoặc ngắm cảnh ruộng đồng bát ngát...


Bình Kiến - TP Tuy Hoà - Phú Yên

Vị trí

Chùa Hang nằm trên sườn phía Tây, trên đỉnh núi Chóp Dài, thuộc xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

Lịch sử

Chùa Hang gọi là chùa nhưng kiến trúc không theo lối thông thường vách xây mái lợp mà được thiên nhiên cấu tạo sẵn, gồm những tảng đá to dựng thẳng đứng tạo thành vách và mái che rất kín đáo; phía ngoài cửa vào chùa có hai tảng đá nhoài ra với mái che bằng phẳng như một hành lang trước khi bước vào chánh điện. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, thiền sư Pháp Tạng, một nhánh của phái Thiền Lâm Tế đến ẩn tu và đắc đạo. Sau này các vị sư trụ trì kế thừa nghiệp tổ gọi chùa này là chùa Tổ, còn dân gian vẫn gọi là chùa Hang.

Cảnh quan

Trong những ngày đầu xuân, ngày rằm tháng Tư, rằm tháng Bảy, các tín đồ Phật giáo và các du khách thập phương thường đến chùa để dâng hương lễ Phật và thưởng ngoạn cảnh đẹp. Khi đứng trên lưng chừng núi, giữa sân chùa tĩnh lặng nghe gió núi thổi rì rào quanh những tán lá cây rừng, mang theo tiếng chuông chùa ngân nga, không khi´ tĩnh mịch khiến tâm hồn như thoát ra khỏi những vướng bận ngày thường. Trên lưng chừng núi trước cổng tam quan hay sân chùa nhìn xuống phía dưới là cánh đồng lúa chín vàng ruộm màu mật ong, là những con sông uốn khúc lượn lờ trôi, là biển cả mênh mông… Gần trong tầm mắt là thành phố nằm khép giữa hai bờ sông Đà Rằng, sông Chùa, với núi Nhạn nhô cao xanh thẳm khiến ta có cảm tưởng như những ồn ào, bươn bả của đời thường cũng vụt rớt xuống lòng đường phố, chỉ còn lại tiếng kinh cầu thoát tục. 

Sự kiện

Tương truyền, sau khi quân nhà Nguyễn bị Tây Sơn đuổi đánh tan tác ở bên này đèo Cù Mông, phải chạy ra đầm và xảy ra trận huyết chiến tại đảo Hòn Nần. Quân nhà Nguyễn phải tháo chạy vào Gành Đỏ, men theo sông Cái (huyện Tuy An) chạy vào núi Chóp Chài và cho tàn quân trú lánh trong chùa Hang. Quân Tây Sơn vây lùng nhiều ngày không tìm thấy tung tích nên quay ra phía dòng sông Đà Rằng đi ngược lên thượng nguồn truy đuổi. Quân Nguyễn Ánh men theo núi lên đèo Phú Cốc vượt qua Lỗ Chài (Hoà Quang) rồi chạy lên làng Lương Sơn đóng trại. Do quân Tây Sơn được Bà Hoả (đội dũng binh người dân tộc thiểu số) tiếp trợ và phát hiện đám tàn quân Nguyễn Ánh chạy về phía đó nên kéo đại binh đuổi theo đến làng Lương Sơn thì quân Nguyễn Ánh đã vượt núi băng rừng chạy về phương Nam. Tây Sơn cho đốt doanh trại của nhà Nguyễn tại Lương Sơn nên từ đó khu vực này còn có tên là Trại Cháy.

Trong thời gian trốn lánh trong chùa Hang, tàn quân nhà Nguyễn được nhà sư trụ trì che giấu, cung cấp lương thực, nước uống sống qua ngày. Nhớ ơn xưa, sau khi lên ngôi, vua Gia Long có sắc phong cho chùa nhưng thời gian và chiến tranh kéo dài, những sắc phong này đã bị thất lạc không còn nữa.


xã Bình Thạnh - huyện Tuy Phong - tỉnh Bình Thuận

Chùa Hang còn gọi là Cổ Thạch tự thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết 100 km về hướng Đông. Chùa tọa lạc trong một hang động trên đồi núi Cổ Thạch cao trên 64 m.

Lịch sử
 

Chùa được xây dựng từ nửa đầu thế kỉ XIX. Đến nay đã trải qua 4 đời trụ trì la` Hòa thượng Thiện Minh (1840); hòa thượng Từ Hóa (1939-1945); Ngộ Tú Đại sư (1945-1946); và từ 1946 đến nay là hòa thượng Minh Đức. Bài vị của những vị trụ trì này đều được thờ trong các hang động.

Cảnh quan
 

Cổ Thạch là một vùng đá rộng, với những tảng đá lớn nhỏ nguyên khối nhấp nhô như những ngôi nhà, có tảng thì giống như bàn thạch, được chồng xếp lên nhau thành những hình ảnh độc đáo như có sự tham gia sắp xếp của bàn tay con người. Nếu ai đã từng đến nơi đây sẽ rất ngạc nhiên tại sao lại có một khung cảnh thật hữu tình đến thế này.

Chánh điện chùa Hang - Ảnh: Vietgle

Rừng chen chúc trên đá núi, dưới chân là núi và sống biển rì rào. Điểm đặc biệt là ở đây có nhiều hang động nguyên sinh ăn sâu vào trong núi tạo nên một không gian thật kì lạ mang màu sắc huyền bí. Bàn thờ Phật đôi khi được đặt giữa hai tảng đá lớn châu đầu vào nhau, hoặc có những điện thờ khi bước vào thắp nhang phải đi vòng qua những ngách đá quanh co. Trước các điện thờ, đôi khi là một khoảng sân nhỏ trồng cây kiểng xanh tươi.

Vẻ đẹp của chùa Cổ Thạch chính là sự kết hợp độc đáo của thiên nhiên và bàn tay sáng tao của con người. Nơi đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá lịch sử quý hiếm: di sản văn hoá Hán Nôm, liễn, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày tạo lập chùa. Một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hoá khác như Đại Hồng Chung, trống sấm đều có niên đại từ nửa đầu thế kỷ XIX.  

Hàng năm, hàng chục vạn du khách từ mọi miền đất nước đến đây để chiêm bái cầu nguyện. Với những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và về lịch sử văn hoá như thế cho nên chùa Cổ Thạch đã được xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993.


xã Bình An - huyện Kiên Lương - tỉnh Kiên Giang

 


Chùa Hang còn có tên là Hải Sơn Tự, là một ngôi chùa cổ nằm trong hang đá sâu khoảng 40 m, thuộc địa bàn xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Nằm trong quần thể bao gồm nhiều danh thắng như núi Hòn Chông, đảo Hòn Phụ Tử, hang Giếng Tiên, chùa Hang là một địa điểm không thể bỏ qua khi bạn đến xứ này. Hàng năm, chùa Hang tổ chức lễ hội long trọng từ ngày 8 đến ngày 15 tháng âm lịch.

Gọi là chùa Hang vì đây là ngôi Phật điện nằm trong hang núi đá vôi. Nhìn bên ngoài, ngọn núi không có gì đặc biệt, nhưng trong lòng núi là một động đá vôi thẳng theo trục Đông Bắc - Tây Nam, chiều dài hơn 50 m, cửa động nhìn ra biển. Hang do đá vôi bị xâm thực tạo thành cách đây hơn 1000 năm. Động cao cỡ trần nhà nhưng do chiều dài nên trong động thiếu ánh sáng, ở giữa động tối như màn đêm.

Với lối kiến trúc độc đáo, chùa Hang thật sự là một điểm tham quan lý tưởng cho du khách gần xa. Du khách đến đây, không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của ngôi chùa, mà còn được hoà mình với thiên nhiên, hít thở không khí trong lành. Vì lẽ đó, chùa Hang đã được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia vào năm 1989.

Lịch sử
 

Cổng vào khu di tích chùa Hang - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chùa Hang tồn tại đến nay gần 300 năm, là một trong những thắng cảnh đẹp của tỉnh Kiên Giang, nhưng về lịch sử ngôi chùa thì chưa được hiểu biết nhiều. Người ta chỉ là biết đôi nét về chùa qua những dòng miêu tả trong Đại Nam Nhất Thồng Chí, tập 5, quyển 26, tỉnh Hà Tiên, mục Sơn Duyên Chí và ít nhiều ký ức của các vị bô lão tại địa phương, thậm chí những lời kể này có khi mâu thuẫn nhau ở từng niên đại và người sáng lập chùa.

Theo đại đức Minh Nhẫn - trụ trì chùa hiện nay - thì: chùa Hang trước đây còn gọi là chùa Thiện Thành hay Hải Sơn tự có từ đầu thế kỷ XVIII. Thời ấy, một vài nhà sư Xiêm La theo đoàn ngư dân xứ này đến đánh cá tại vùng đất Hà Tiên đã đưa 2 tượng Phật Thích Ca từ xứ sở của họ sang thờ trong hang. Cư dân địa phương lúc đó đa số là gốc Khmer, gốc Hoa và một số ít là người Việt đến buôn bán tại đây.

Năm 1771, vùng Hà Tiên bị quân Xiêm La tràn sang xâm lược. Năm 1774, quân Xiêm bị đánh đuổi về nước, các vị sư người Xiêm cũng trở về cố quốc. Ngôi chùa bị bỏ hoang suốt một thời gian dài. Trước tình hình này, cư dân địa phương người gốc Khmer đã cung thỉnh một vài vị sư người gốc Khmer đến trụ trì. Không bao lâu, các vị sư này chuyển ra ngoài, dựng một ngôi am nhỏ dạng nhà sàn gần đó để tu hành. Nhiều năm sau đó, các vị sư này lại thành lập một ngôi chùa lớn khác cách đó không xa, có tên là Prakchaokia (Thái Lùa), người dân địa phương vẫn quen gọi là chùa Ba Trại vì chùa nằm trong vùng căn cứ nghĩa quân Ba Trại dưới chân núi Hòn Chông của Lãnh binh Nguyễn Trung Trực (đến nay ngôi chùa này vẫn còn, thuộc hệ phái Nam Tông).

Năm 1880, cư dân địa phương cung thỉnh hai vị hoà thượng người Việt là hai anh em Võ Thường Lễ và Võ Thường Nghĩa đến chỉnh trang và mở rộng chùa. Vì thế, người ta xem hai vị sư này là người sáng lập chùa Hang. Vì 2 vị sư này sống tịnh tu nên mỗi tháng 2 lần, vào ngày rằm và ngày đầu tháng, cư dân địa phương đến cúng dường thực phẩm. Đến năm 1865, hai vị đều viên tịch. Sau đó, một vị hoà thượng pháp danh là Thiện Tông được cư dân cung thỉnh về chùa. Vị hoà thượng này cũng sống tịnh tu nên ít khi ra ngoài. Vào một ngày rằm của năm 1920, thiện nam tín nữ đến cung cấp thực phẩm thì không thấy sư đâu nữa. Mãi 10 năm sau mới thấy di cốt của nhà sư. Nơi hang phát giác di cốt đặt tên là hang Phật ngủ.

Đời trụ trì thứ ba của chùa Hang là hoà thượng Tố (không rõ pháp danh và thế danh) cũng sống tịnh tu và viên tịch vào năm 70 tuổi (1939). Từ năm 1939 - 1944, trụ trì chùa Hang là hoà thượng Chí Hoà (không rõ thế danh và hành trạng) cũng do cư dân địa phương cung thỉnh về và gọi thân mật là Sư Chưởng. Ngài viên tịch vào năm 70 tuổi.  Đến năm 1953, cư dân địa phương cung thỉnh một sư cô (không rõ thế danh và hành trạng) quen gọi là Cô Sáu về trông lo việc Phật sự. Năm sau, cư dân lại cung thỉnh hoà thượng Thiện Hoá (thế danh Lê Quang Tư) lúc bấy giờ đang tu học tại chùa Thanh Hoà (xã Thuận Yên, thị xã  Hà Tiên hiện nay) về cùng tu và sau đó là trụ trì. Năm 1975, sư cô Sáu viên tịch. Hòa Thượng Thiện Hoá (Thầy Tư) tiếp tục trụ trì cho đến khi viên tịch vào năm 1999, thọ 79 tuổi. Trong suốt 45 năm trụ trì chùa Hang, hoà thượng Thiện Hoá đã nhiều lần cho trùng tu ngôi chùa, đặc biệt là lần đại trùng tu vào năm 1962 theo dáng vẻ như ngày nay và được công nhận là điểm di tích lịch sử và tham quan thắng cảnh vào năm 1989. Từ năm 1999 - 2002, chùa do đại đức Thích Minh Hải trụ trì. Từ 2003, trụ trì chùa là đại đức Thích Minh Nhẫn.

Kiến trúc
 

Tam quan chùa - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Chùa Hang trông bên ngoài là một ngọn núi, nhưng bên trong lòng núi là một động đá vôi thẳng theo trục Đông Bắc- Tây Nam chiều dài hơn 50 m, cửa Đông nhìn ra biển. Đây là một động đá do thiên nhiên tạo nên hết sức độc đáo, động cao như mái nhà, chiều dài hơn 40 m nằm trong hang sâu khiến ánh sáng thâm u, mờ ảo.

Tước cổng chùa là một con đường xi măng chạy dài thẳng tắp, sạch sẽ và thoáng đãng. Hai bên đường có rất nhiều cây xanh, rợp mát cả không gian rộng lớn. Cổng chùa được xây theo kiểu tam quan, với lối kiến trúc, hoa văn đẹp mắt và lộng lẫy. Qua khỏi cổng là một khoảng sân rất rộng, nơi đây đặt tượng Phật Di Lặc bằng đá Non Nước (Đà Nẵng) nặng 22 tấn, phía sau là ngôi chùa tựa lưng vào núi. Trên nóc chùa được trang trí những hoa văn họa tiết theo truyền thống của phật giáo Việt Nam.

Bước vào chánh điện, du khách có cảm giác như mình đang lạc vào một chốn thâm u cùng cốc, gió từ biển lùa vào mát rượi, tinh thần sảng khoái vô cùng. Đi sâu vào hang sẽ gặp điện thờ 2 tượng Phật Thích Ca. Tượng lớn có chiều cao 2.56 m. Tượng nhỏ cao 2.36 m. Theo truyền thuyết thì 2 tượng Phật này có từ lúc các vị sư người Thái Lan ẩn tu cách đây 300 năm. Tương tuyền đây là những pho tượng do Hoàng tử Thái Lan tặng để đền ơn Mạc Thiên Tích đã cưu mang trong những ngày lánh nạn nơi đây. Đại đức Thích Minh Nhẫn trụ trì chùa Hang cho biết tượng rỗng, khi gõ vào tượng thì phát ra tiếng ngân, hiện nay chưa rõ tượng được làm bằng chất liệu gì.

Trong hang ánh sáng lờ mờ, đủ để du khách có thể nhìn thấy những cột thạch nhũ cao to từ trên vòm hang buông xuống trông như những cột nhà. Đây là những cột đá rỗng do đá vôi kết tinh lại tạo thành, khi gõ vào thân cột sẽ có tiếng ngân vang như tiếng chuông  chùa, vì thế người ta còn gọi là đá chuông. Tiếp tục đi luồn qua hang, ra tới cửa sau, du khách sẽ bất ngờ khi trước mắt mình là một vùng trời biển bao la. Biển Kiên Lương không trong xanh nhưng rất phẳng lặng, mặt biển lăn tăn gợn sóng, bãi cát vàng nằm thoai thoải theo triền sóng, rất thích hợp cho du khách nghỉ ngơi, di dưỡng tinh thần. Xa xa là đảo Hòn Phụ Tửquần đảo Bà Lụa nhấp nhô trong sóng biển chập chùng. Đi về phía sau giáp núi chùa Hang là nơi thờ đàn Dược Sư 49 vị Phật.

©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt