<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Di tích Lăng Bà Vú

Vị trí

Lăng Bà Vú nằm ở thôn 3, thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà.

Lịch sử

Lăng do vua Gia Long cho xây dựng trong hai năm 1802-1804 để nhớ ơn người phụ nữ đã giúp mình trong những năm tháng lẩn trốn Tây Sơn. Dân trong vùng kể lại rằng, thuở trước, khi chúa Nguyễn Ánh đang lúc gian nan và khốn khó, một lần bị quân Tây Sơn đánh bại và truy đuổi gắt gao, quân lính theo hầu không còn mấy người, lương thực cạn kiệt, những tưởng rằng phải bỏ xác lại nơi này, may sao, có một người phụ nữ nhà khá giả ở thôn Mỹ Hiệp (Ninh Hoà) thương tình cho ăn, lại chỉ đường cho trốn chạy thoát được vào Nam. Nhiều năm sau, khi đã chiến thắng được triều Tây Sơn và lên làm vua, nhớ lại công ơn của người đã cứu giúp năm nào, nhà vua bèn sai người về báo đáp thì người xưa đã không còn nữa. Ðể ghi nhớ công ơn của bà, nhà vua xuống chiếu phong tặng cho bà là Nhũ mẫu, đồng thời truyền thợ giỏi đang xây dựng cung điện ở Huế và thợ khéo ở Khánh Hòa đến thôn Mỹ Hiệp để xây lăng cho bà. Cũng chí vì thế mà  nhân dân quen gọi là Bà Vú.

Kiến trúc

Lăng được xây dựng trên gò đất cao phía cánh đồng, có không gian rộng, uy nghiêm, các yếu tố phong thủy đã được kết hợp và xử lý một cách hài hòa với không gian xung quanh. Tổng thể lăng được xây dựng theo hình chữ quốc, mặt xoay hướng Đông Nam có hồ sen rộng hình chữ nhật bằng vôi cát.

Lăng có 3 lớp thành xây bằng vôi, cát, gạch. Thành ngoài cùng: chiều ngang 12m, chiều dài20 m, cao 1,5 m. Mặt trước có chừa cổng, 2 bên cổng có hai cây trụ lớn, trên mỗi trụ có đắp tượng một con lân màu hồng to lớn ngồi ngoảnh mặt ra hồ sen. Phía trong cổng có 1 án phong dài 3 m đứng chắn ngang. Lưng thành xây cao lên theo hình cánh cung.

Thành ngoài dài 20m, rộng 14m, cao 1,5m tạo thành khuôn viên bao bọc, có cửa nhỏ ra vào, 2 bên có hai con sư tử đắp bằng vôi, cát tô màu hồng rất đẹp. Tiếp theo có án phong, có thành nội bao bọc khu mộ dài 12m, rộng 0,9m, cao 1,2m hình vòm cung. Hai bên cửa có 2 con kỳ lân thể hiện khá tinh xảo.

Ngôi mộ nằm chính giữa có bia đá khắc chữ Hán ghi lại sự tích công đức của Bà Vú. Đi vào giữa, đến lớp thành trong cùng: thấp hơn ôm lấy phần mộ hình chữ nhật dài 3,1 m, rộng 1,8 m. Phía trước là nhà bia, văn bia bằng chữ Hán ghi rõ công đức người dưới mộ. Ở giữa là phần mộ. Phía sau, tại mặt thành hình cánh cung: trên vẽ lưỡng long triều nguyệt, dưới đắp hình thư kiếm, giữa là bài ký, ghi cảm tưởng của Vua Gia Long và ngày thàng kiến lập bằng chữ Hán. Những bức bích họa phía trong mặt thành đường nét màu sắc khá tinh xảo, phần nhiều là những tích cũ như ngư tiều canh mục, trúc lâm thất hiền, nhị thập tứ hiếu.

 Điều đáng lưu ý ở công trình là những hình trang trí đắp nổi trên những bức tường của lăng có từng chủ đề riêng biệt theo các tích xưa như: Nhị thập tứ hiếu, Trúc Lâm thất hiền, Ngư Tiều Canh Mục, Bát tiên, Chiêu Quân cống Hồ... cùng với một số biểu tượng của người quân tử theo quan niệm của đạo Nho như: tùng, cúc, trúc, mai. Hoặc là những biểu tượng quen thuộc của đạo Lão như: thư, kiếm, phong, vân, tùng, đình, nai, hạc... Chất liệu chính để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bích họa này chỉ là vôi, cát cùng với màu sắc trộn với nhau và được đưa lên tường, song ở mỗi bức tranh các nghệ nhân xưa đã thể hiện một cách trau chuốt đến từng chi tiết cũng như toàn bộ bố cục của mỗi khung hình.

Lễ hội

Vì Bà không có con cái gia đình tế tự cho nên vua đã cấp một khu đất rộng cho dân trong vùng cày cấy, không phải nộp thuế để lo nhang khói. Tương truyền ngày giỗ của Bà vào ngày 16 tháng chạp hàng năm.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt