<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Gò Dầu

Vị trí

Gò Dầu là một huyện phía Nam tỉnh Tây Ninh, Đông Bắc giáp huyện Dương Minh Châu, Tây Bắc giáp huyện Hoà Thànhhuyện Châu Thành. Tây Nam giáp với huyện Bến Cầusông Vàm Cỏ Đông ngăn cách với huyện Bến Cầu, Nam và Đông Nam giáp huyện Trảng Bàng.

Thị trấn huyện lị Gò Dầu Hạ trên sông Vàm Cỏ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 15km, và Soài Riêng 52km, Trảng Bàng 13 km, thị xã Tây Ninh 36km, thành phố Hồ Chí Minh 62km. Gò Dầu có vị trí hết sức quan trọng về kính tế và quốc phòng. Cầu xi măng trên sông Vàm Cỏ Đông đi sang tỉnh Soài Riêng và Phnompênh. Nông trường trồng cao su.

Thông tin sơ lược

Diện tích: 250,5 km2.

Dân số: 135300 người.

Mật độ: 540 người/km2.

Huyện lị: thị trấn Gò Dầu.

Huyện gồm thị trấn Gò Dầu và 8 xã khác: Thạnh Đức, Bàu Đồn, Cẩm Giang, Hiệp Thạnh, Phước Thạnh, Phước Đông, Phước Trạch, Thanh Phước.

Lịch sử

Trước thế kỷ XVII, đất Gò Dầu còn hoang vu, nhiều rừng rậm và thú dữ. Hiện nay tại ấp Rỗng Tượng xã Thanh Phước và ấp tầm Lanh xã Hiệp Thạnh vẫn còn dấu vết đường mòn voi đi. Vào giữa thế kỉ XVII, một số đồng bào các tỉnh miền Trung vào nam lập nghiệp. Họ dừng chân ở một vùng đất “Gò” có nhiều cây dầu, cạnh sông Vàm Cỏ Đông “Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng”. Sau này vùng đất đó được gọi là Gò Dầu Hạ. Thời kì thuộc Pháp, Gò Dầu là tổng của huyện Trảng Bàng gọi là Tổng Mỹ Linh. 1959, chính quyền Sài Gòn chia quận Gò Dầu thành hai quận: Hiếu Thiện và Khiêm Hanh. Quận Hiếu Thiện, quận lỵ tại Gò Dầu Hạ, có 3 tổng: Mỹ Ninh, Giai Hoá, Triêm Hoá, và 15 xã. Quận Khiêm Hanh, quận lỵ tại Bàu Đồn, có 1 tổng là Thạnh Bình và 5 xã.

Về phía chính quyền cách mạng, sau Hiệp định Giơnevơ, đầu năm 1955 tách một phần đất phía bắc huyện Trảng Bàng để thành lập huyện Gò Dầu. Cuối năm 1959, phần đất phía tây sông Vàm Cỏ Đông thuộc Gò Dầu để thành lập huyện Bến Cầu. Sau chiến thắng Tua Hai, Gò Dầu sáp nhập trở lại huyện Trảng Bàng. Hiện nay Gò Dầu gồm 8 xã và  thị trấn.

Tiềm năng

Đất đai: đất Gò Dầu có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 5 – 10m, với địa hình: dạng gò đồi chiếm gần 2/3 diện tích, thích hợp với các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng này có những chòm rừng nhỏ tạo thành vùng căn cứ liên hoàn giữa các xã. Trong kháng chiến bảo vệ tổ quốc, vùng đất này là một địa điểm rất thuận lợi cho phong trào cách mạng. Dạng địa hình bằng chiếm hơn 1/3 diện tích, nằmven sông Vàm Cỏ Đông và các con rạch, đất phù sa màu mỡ, thích hợp với cây lúa.

Sông ngòi: Gò Dầu có một sông lớn chảy ngang qua và nhiều rạch nhỏ. Sông Vàm Cỏ Đông vào địa phận Gò Dầu tại xã Cẩm Giang và chảy theo rìa phía tây các xã Thạnh Đức, Hiệp Thạnh, Phước Trạch, Thị trấn, Thanh Phước trước khi chảy qua huyện Trảng Bàng về Long An. Các chi lưu sông Vàm Cỏ Đông: rạch Bàu Nâu, rạch Đá Hàng, rạch Nho, suối Cá Nần, suối Bà Tươi... nhỏ hẹp, vừa là đường thuỷ nối sông lớn với nhiều vùng đất, vừa làm ranh giới tự nhiên cho một số xã trong huyện. Sông Vàm Cỏ Đông và các chi lưu thường xuyên có nước chảy đều đặn, vừa đảm bảo cho thuyền ghe lưu thông được quanh năm, vừa là môi trường tốt cho các loài thuỷ hải sản sinh sôi nảy nở. Bên cạnh đó, Gò Dầu còn có hàng chục km kênh, mương nằm trong hệ thống thuỷ lợi Dầu Tiếng chảy về các xã phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Giao thông: đường quốc lộ 22A từ TP HCM lên phía bắc vào địa phận Gò Dầu tịa cầu Rỗng Tượng, đến ngã ba thị trấn Gò Dầu rẽ sang phía tây qua huyện Bến Cầu thẳng tới biên giới Việt Nam – Campuchia với chiều dài ngang qua huyện là 6km. Quốc lộ 22B từ ngã ba Gò Dầu đi lên phía bắc gặp huyện Hoà Thành dài 22km rồi đến  TX Tây Ninh. Đường tỉnh 782 dài 19km từ Trảng Bàng đến ranh giới Gò Dầu, đường tỉnh 784 lên Truông Mít thuộc huyện Dương Minh Châu. Ngoài ra, các đường liên huyện như: đường 253 từ thị trấn Gò Dầu đến xã Phước Đông, đường 239 nối Thạnh Đức với đường tỉnh 784 .

Dân cư: đại bộ phận dân cư ở Gò Dầu là người Việt. Người Hoa chiếm khoảng 5% dân số, sống tập trung ở vùng thị trấn.

Tôn giáo: Gò Dầu có ba tôn giáo lớn: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, thờ cúng tổ tiên.

Di tích


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt