<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Hà Tĩnh

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, một phần ngăn cách bởi sông Lam. Phía Nam giáp Quảng Bình, ranh giới là dãy Hoành Sơn. Phía Đông giáp biển với chiều dài 137 km. Phía Tây giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào.

Hà Tĩnh là tỉnh đứng thứ 20 về diện tích và thứ 22 về dân số trong các tỉnh thành của cả nước.

Tỉnh có hệ thống quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất chạy dọc theo lãnh thổ nên tạo ra một hành lang phát triển kinh tế và dịch vụ. Ngoài ra, với lợi thế có đường biên giới giáp Lào và các tuyến đường giao thông ngang đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác với Lào, Thái Lan và các nước khác trong khu vực.

Hà Tĩnh không phải là một tỉnh lớn, diện tích cũng vừa phải nhưng vị trí của Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng phát triển và mở rộng mối quan hệ liên vùng. Với vị trí giáp biển, tỉnh có nhiều điều kiện để xây dựng các cảng biển, tạo điều kiện giao thương trong nước và quốc tế cũng như phát triển kinh tế biển và du lịch.

Hà Tĩnh cũng là vùng có nhiều lợi thế về tài nguyên vật liệu xây dựng và một số quặng khoáng sản quý.

Với vị trí thuận lợi như trên thì Hà Tĩnh có nhiều điều kiện để phát triển nhanh và mạnh nền kinh tế của mình.

Địa hình

Hà Tĩnh là tỉnh có địa hình đa dạng, đủ các vùng đồi núi, trung du, đồng bằng và biển. Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên. Đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối. Phía Tây là dãy Trường Sơn nằm dọc biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên 2000m như Pulaleng (2711 m), Rào Cỏ (2.335 m).

Địa hình của Hà Tĩnh hẹp và dốc, nghiêng dần từ Tây sang Đông. Phía Tây là núi cao (độ cao trung bình là 1500 m, kế tiếp là miền đồi bát úp, rồi đến dải đồng bằng nhỏ hẹp  (độ cao trung bình 5 m) và cuối cùng là các bãi cát ven biển.

Phần lớn diện tích của tỉnh là núi có độ cao dưới 1000m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp. Một phần diện tích nhỏ là các thung lũng có độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực.

Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển có địa hình trung bình trên dưới 5 m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp. Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ.

Địa hình bờ biển Hà Tĩnh với Vũng Áng, vũng Sơn Dương có điều kiện để thiết lập cảng do diện tích mặt nước rộng, độ sâu trung bình từ 8 -12m từ bờ vào, thuận tiện cho việc xây dựng cầu tàu.

Khí hậu

Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều. Ngoài ra, tỉnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc.

Hà Tĩnh có 2 mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa này nóng, khô hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 40oC, khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi, lượng mưa lớn nhất 500 mm/ngày đêm; mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 7OC.

Khí hậu của Hà Tĩnh có một số đặc điểm chính như mùa đông lạnh do khối khí lạnh từ phía Bắc tràn về; là tỉnh nằm ở khu vực có lượng mưa lớn nhất toàn vùng, chịu ảnh hưởng của bão; khí hậu có sự biến động mạnh, thể hiện rõ trong chế độ nhiệt mùa đông và chế độ mưa bão mùa hạ.

Nhiệt độ trung bình năm của Hà Tĩnh vào khoảng 23,60C - 24,60C. Biên độ giao động ngày đêm của nhiệt độ vào khoảng 6,20C. Số giờ nắng trung bình năm vào khoảng 1.800 giờ. Lượng mây trung bình năm ở Hà Tĩnh vào khoảng 70-80%. Lượng mưa trung bình năm ở Hà Tĩnh vào khoảng 2.000 - 2700 mm, với số ngày mưa từ 140 - 160 ngày/năm. Độ ẩm trung bình năm rất cao, đạt tới 84 - 86%. Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình của tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%.

Hà Tĩnh là tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của bão (chịu trực tiếp từ 3-4 cơn bão/ năm, chịu ảnh hưởng từ 5-6 cơn bão/ năm). Tốc độ gió mạnh nhất khi có bão có thể đạt tới 30m/s ở vùng núi và 40m/s ở vùng đồng bằng.

Sông ngòi

Hà Tĩnh nằm trong lưu vực sông Ngàn Sâu thuộc hệ thống sông Cả. Sông Ngàn Sâu thuộc loại nhiều nước nhất trong hệ thống sông Cả. Tổng lượng nước bình quân nhiều năm tính tới cửa sông là 6,15 km3, ứng với lưu lượng trung bình năm là 195m3/s.

Mạng lưới sông ngòi ở Hà Tĩnh tuy nhiều nhưng ngắn. Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9 km; sông Lam đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km. Sông ngòi ở Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ thống: Hệ thống sông Ngàn Sâu có lưu vực rộng 2.061 km2; có nhiều nhánh sông bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi. Hệ thống sông Ngàn Phố dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ Hương Sơn cùng với sông Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội. Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất

Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 605.574 ha. Trong đó, đất nông nghiệp là 103.720 ha, chiếm 17,13%; đất lâm nghiệp 231.100 ha, chiếm 38,16%; đất chuyên dùng 45.700 ha, chiếm 7,55%, đất ở 6.920 ha, chiếm 1,14%. Diện tích đất chưa sử dụng còn khá nhiều, 218.134 ha, chiếm 36,02% diện tích đất tự nhiên. Nguồn tài nguyên đất đai ở Hà Tĩnh còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Hơn 50% diện tích đất chưa sử dụng có khả năng phát triển lâm nghiệp, khoảng 10% đất chưa sử dụng có thể đưa vào mục đích sản xuất nông nghiệp, 5.340 ha mặt nước có khả năng cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản, 10.000 ha đất vườn gia đình chưa được cải tạo để trồng cây có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, hệ số sử dụng đất nông nghiệp còn thấp, nhất là ở các huyện miền núi. Trung bình toàn tỉnh hiện nay, hệ số sử dụng đất đạt 1,8 lần. Đất đai, thổ nhưỡng ở Hà Tĩnh chủ yếu thích hợp cho trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày.

Rừng

Hà Tĩnh hiện có trên 300.000 ha rừng và đất rừng, trong đó diện tích rừng chiếm 66%, còn lại trên 100.000 ha đất trống, đồi trọc, đất cây bụi và bãi cát. Rừng tự nhiên có 164.978 ha, trong đó rừng sản xuất kinh doanh là 100.000 ha, rừng phòng hộ 63.000 ha. Trữ lượng gỗ là 20 triệu m3, hàng năm khai thác khoảng 2 - 3 triệu m3. Thực vật của rừng đa dạng và phong phú. Hiện nay, Hà Tĩnh còn giữ được một số vùng rừng nguyên sinh có hệ động, thực vật phong phú và đa dạng như khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, khu rừng phòng hộ hồ Kẻ Gỗ. Hiện có trên 86 họ và 500 loại cây dạng thân gỗ với nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, mật, đinh, gõ, pơ mu ... và các loại động thực vật quí hiếm. Diện tích rừng trồng của Hà Tĩnh có khoảng 74,7 nghìn ha. Độ che phủ đạt 39,7% diện tích rừng tự nhiên của tỉnh.

Rừng Hà Tĩnh chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo. Rừng giàu chỉ chiếm 10%, rừng trung bình chiếm 40%, còn lại 50% là rừng nghèo kiệt. Đất không có rừng còn nhiều, trong đó có một số diện tích đất ở các sườn dốc đang bị sói mòn nghiêm trọng.

Động thực vật

Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ. Trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu... và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác.

Đặc biệt có Vườn Quốc gia Vũ Quang (ở huyện Vũ Quang và Hương Khê) có khoảng 300 loại thực vật và nhiều loại động vật quý hiếm. Đã phát hiện được 2 loại thú quý hiếm là Sao La và Mang Lớn. Rừng Vũ Quang có địa hình núi cao hiểm trở, tách biệt với xung quanh, khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho các loại động, thực vật phát triển. Đây là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam là một trong những hệ sinh thái có giá trị kinh tế, khoa học và cảnh quan.

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị cao, theo số liệu điều tra, tại đây có hơn 414 loài thực vật, 170 loài thú, 280 loài chim, trong đó có 19 loài chim được ghi vào sách đỏ Việt Nam.

Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao. Tập trung phần lớn ở khu vực các cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu...

Biển

Hà Tĩnh có 137 km bờ biển. Biển có nhiều hải sản quý với trữ lượng khá cao như tôm hùm, sò huyết... Vì thế, Hà Tĩnh có nhiều lợi thế trong việc đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản và xây dựng công nghiệp chế biến hải sản xuất khẩu. Hiện Hà Tĩnh có tiềm năng lớn về hải sản như:

- Trữ lượng cá : 85,8 nghìn tấn (mức khai thác cho phép là 5,4 nghìn tấn/năm)

- Trữ lượng tôm vùng lộng: 500 - 600 tấn

- Trữ lượng mực vùng lộng: 3000 - 3500 tấn

Các cửa sông đã tạo nên diện tích mặt nước rộng gần 600 ha, có độ mặn phù hợp với việc nuôi tôm, cua...

Bờ biển cũng có nhiều tiềm năng xây dựng cảng biển, du lịch. Tuy nhiên, thềm lục địa của Hà Tĩnh chưa được khai thác hiệu quả và đầy đủ.

Sông, hồ

Hà Tĩnh có nguồn nước phong phú nhờ hệ thống sông suối, hồ đập khá dày đặc. Với 266 hồ chứa có tổng dung tích trữ trên 600 triệu m3, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m3/s, 15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m3/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã phục vụ tưới được 47.737 ha/vụ.

Tuy lượng nước sông khá lớn nhưng việc sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị khô cạn vùng thượng và nhiễm mặn ở hạ lưu.

Nước ngầm ở Hà Tĩnh tuy chưa có số liệu điều tra toàn diện nhưng qua các số liệu đã thu thập được cho thấy mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng mưa trong năm. Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông, miền trung du và miền núi nước ngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng.

Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở Sơn Kim huyện Hương Sơn có chất lượng tốt, vị trí thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh.

Khoáng sản

Khoảng sản là một tiềm năng lớn của Hà Tĩnh nhưng đến nay chưa được đầu tư khai thác mạnh mẽ. Tỉnh có quặng sắt ở Thạnh Khê (huyện Thạch Hà) cách thành phố Hà Tĩnh 6 km, trữ lượng khoảng 500 triệu tấn, hàm lượng sắt cao, nằm dưới mặt đất 40 - 100 m. Nếu đầu tư khai thác hiệu quả quặng sắt này có thể đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế của tỉnh, nhất là công nghiệp. Ngoài ra, tỉnh còn có mỏ thiếc, măng gan ở Hương Sơn, than ở Hương Khê, nước khoáng Kim Sơn, bôxít, titan nằm dọc theo bờ biển, trữ lượng khoảng 3 - 5 triệu tấn. Nguồn vật liệu xây dựng như đá, cát, sỏi tương đối dồi dào, hiện nay được khai thác chủ yếu cho xây dựng các công trình trên địa bàn và các vùng lân cận. Đá các loại (gồm cả đá hoa cương) là nguồn lợi quan trọng cho nền kinh tế của tỉnh. Đá phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung nhất là ở Kỳ Anh, Thạch Hà, Hương Sơn. Các loại đá được phát hiện và khai thác đều có độ chịu nén cao, độ trầy thấp. Một số vùng có cát thạch anh silíc với trữ lượng khá lớn chưa được khai thác. Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có nhiều loại sa khoáng chưa được điều tra khảo sát như manga, đá quý, than bùn ...

Du lịch
 

Hà Tĩnh có 137 km bờ biển với 4 cửa sông chính, nhiều lạch, tạo nhiều bãi biển đẹp như Cửa Sót, Thiên Cầm, Ðèo Con, Xuân Thành, Chân Tiên. Các bãi biển đa số phân bố dọc theo quốc lộ 1A nên rất thuận tiện cho du khách đến tham quan và nghỉ ngơi.

Khu du lịch sinh thái Nước Sốt với mỏ nước khoáng thiên nhiên đạt tiêu chuẩn quốc tế, là nơi du lịch dưỡng bệnh cho du khách trong và ngoài nước, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, khu du lịch sinh thái Kẻ Gỗ… làm cho Hà Tĩnh trở nên sôi động bởi các hoạt động kinh doanh thương mại, du lịch, dịch vụ đến từ hai miền Nam - Bắc và các du khách quốc tế

Hà Tĩnh có nguồn tài nguyên văn hoá nhân văn phong phú, lâu đời với 328 di tích, trong đó có 58 di tích – thắng cảnh đã được xếp hạng quốc gia. Đây là vùng đất có nhiều lễ hội, hiện nay đang cần được khôi phục như lễ hội Rước Hến (Đức Thọ), lễ hội Xuân Điền, lễ hội chùa Hương Tích (Can Lộc), lễ hội Nhượng Bạn (Cẩm Xuyên), đền Củi (đền Bà Chúa Kho ở Nghi Xuân)… với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn du khách.

Hà Tĩnh có nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo được làm ra từ các làng nghề truyền thống hàng trăm năm trước như làng mộc (Thái Yên), làng rèn Vân Chàng (Trung Lương), mây tre Thạch Long… Du khách về Hà Tĩnh còn được thưởng thức những làn điệu dân ca đặc sắc như hát ru, hò vè, trò kiểu, múa trống, múa quạt, hát chăn trâu, múa đèn, múa cửa đình…. Tỉnh cũng có nhiều đặc sản nổi tiếng như bưởi Phúc Trạch, cu đơ Hà Tĩnh , quýt Kỳ Anh, hồng vuông Thạch Hà.

Đặc sản

  • bưởi Phúc Trạch

  • hến sông La

  • bánh cu đơ

Hành chính và các đơn vị trực thuộc
 

Tỉnh Hà Tĩnh bao gồm tỉnh lị là thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh cùng 10 huyện là Hương Sơn, Đức Thọ, Nghi Xuân, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Vũ Quang, Lộc Hà.

Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kĩ thuật của tỉnh.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Đất Hà Tĩnh xưa thuộc bộ Cửu Đức, một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Tục truyền Kinh Dương Vương lúc đầu đóng đô trên núi Hồng Lĩnh, sau mới dời ra Phong Châu, ở Phú Thọ. Chử Đồng Tử đã vào ở núi Quỳnh Viên, tức là núi Nam Giới ở gần Cửa Sót. Thời Bắc thuộc lần thứ nhất là quận Cửu Chân, một trong chín quận của Giao Chỉ Bộ; thời Bắc thuộc lần thứ ba là Châu Hoan.

Thời Tiền Lê là châu Thạch Hà, đời Lý là huyện Thạch Hà, đời Trần là châu Nhật Nam, đời Minh thuộc Tĩnh Châu. Đời Hậu Lê, đất này thuộc đạo Hải Tây, rồi thuộc Nghệ An thừa tuyên. Thời Tây Sơn, thuộc trấn Nghĩa An. Đời Gia Long, đất thuộc trấn Nghệ An.

Tỉnh Hà Tĩnh được thành lập năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Tên Hà Tĩnh (河靖) nghĩa là có sông chảy êm đềm. Tỉnh lúc này gồm hai phủ là Đức Thọ và Hà Hoa. Phủ Đức Thọ gồm các huyện La Sơn (do phủ kiêm lí), Hương Sơn, Hương Khê (lập năm 1876), Can Lộc, Nghi Xuân. Phủ Hà Hoa có các huyện Hà Hoa (sau là Kỳ Anh), huyện Hoa Xuyên (sau là Cẩm Xuyên và Thạch Hà)

Đời Tự Đức, năm 1848, triều đình bỏ tỉnh làm đạo gồm 1 phủ Hà Hoa, còn phủ Đức Thọ nhập vào tỉnh Nghệ An. Năm 1875 đặt lại tỉnh Hà Tĩnh.

Phong trào Văn Thân (năm 1874) và phong trào Cần Vương (1885) nổi lên mạnh mẽ ở tỉnh Hà Tĩnh kéo dài mãi đến năm 1896 khi lãnh tụ Phan Đình Phùng bị bệnh mất, nhưng tiếp đến là phong trào chống thuế (1908), phong trào Đông Du (1905) và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931). Tháng 12/1978, tỉnh Hà Tĩnh sát nhập với Nghệ An, thành tỉnh Nghệ Tĩnh, tỉnh lị là thành phố Vinh. Tháng 8/1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh lị là thị xã Hà Tĩnh. Hiện nay, thị xã Hà Tĩnh đã được nâng cấp lên thành phố Hà Tĩnh.

Kinh tế
 

Hà Tĩnh là tỉnh có nền kinh tế phát triển ổn định. Trong 63 tỉnh thành trong cả nước thì GDP của Hà Tĩnh đứng thứ 35, GDP bình quân đầu người đứng thứ 46, thu ngân sách đứng thứ 17. Nền kinh tế của tỉnh đã và đang có sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành. Trong những năm qua, kinh tế có sự tăng trưởng theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ, song chưa ổn định.

Về nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp theo bình quân đầu người cao so với các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã thu hút 73% số lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, đóng góp 41% GDP của tỉnh. Ngành trồng trọt còn mang tính độc canh. Cây lâu năm chiếm tỉ lệ quá nhỏ trong cơ cấu cây trồng, chỉ khoảng 2%. Diện tích trồng cây hàng năm chiếm 82% đất trồng trọt, trong đó đất dành cho cây lương thực lên tới 86% diện tích. Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, vừng, dâu tằm, mía và rau), cây thực phẩm chỉ chiếm 10-12% diện tích gieo trồng.

Về lâm nghiệp, hiện nay cả tỉnh có 240,5 nghìn ha đất có rừng, bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng. Sản lượng khai thác gỗ hàng năm khoảng từ 20-30 nghìn m3. Hà Tĩnh cũng có khoảng 3000 ha rừng thông nhựa đã đến tuổi khai thác. Trong tương lại, hướng chủ yếu của ngành lâm nghiệp là bảo vệ, cải tạo và tu bổ rừng tự nhiên để tăng vốn rừng, khai thác hợp lí gỗ và các đặc sản từ rừng gắn với công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu. Nhiệm vụ hàng đầu của tỉnh là khoanh nuôi và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đặc dụng và rừng đầu nguồn, đẩy mạnh trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi trọc, đồng thời xây dựng và phục hồi một số rừng gỗ quý, rừng nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp.

Về ngư nghiệp, với tiềm năng biển sẵn có, Hà Tĩnh đã có những bước phát triển mạnh. Giá trị sản xuất của ngành tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng trung bình khoảng 4,95%/năm. Tuy nhiên, ngành cũng còn một số khó khăn là thiếu vốn đầu tư nuôi trồng và đánh bắt xa bờ. Khâu giống và phòng trừ dịch bệnh chưa có biện pháp chủ động, làm ảnh hưởng đến việc nuôi trồng. Thuỷ sản là ngành mang lại nhiều lợi nhuận nên tỉnh đang có những chính sách đầu tư hợp lí như xây dựng cơ sở vật chất, từng bước hiện đại hoá phương tiện đánh bắt nhằm đảm bảo cho việc khai thác xa bờ có hiệu quả ... Việc nâng cao đầu tư phát triển của ngành cũng chú trọng nhiều đến kế hoạch giữ gìn nguồn tài nguyên, đồng thời coi trọng công tác bảo vệ môi trường.

Về công nghiệp, tuy ngành công nghiệp của tỉnh còn nhỏ bé, phát triển chưa mạnh, song đã từng bước phát triển theo hướng đổi mới công nghệ, cơ cấu và tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Các ngành công nghiệp như sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, sản xuất gạch tuy nen, chế biến gỗ, chế biến hải sản đông lạnh đang được phát triển theo hướng khai thác lợi thế của địa phương. Đến nay, tuy khối lượng các sản phẩm công nghiệp chưa cao, nhưng công nghiệp đã bước đầu góp phần vào sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu của tỉnh.

Về dịch vụ, dịch vụ vận tải và bưu chính viễn thông có xu hướng ngày càng tăng nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của địa phương và các tỉnh lân cận. Ngành thuơng mại ngày càng phát triển theo xu hướng của kinh tế thị trường. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng theo từng năm song chủng loại hàng còn hạn chế, chủ yếu là sản xuất nguyên vật liệu. Hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng thiết yếu, phân đạm phục vụ nông nghiệp... Ngành du lịch đang được đầu tư phát triển. Số lượng khách đến Hà Tĩnh ngày càng tăng nhưng vẫn ít. Doanh thu du lịch còn thấp, chủ yếu là từ dịch vụ lưu trú và ăn uống. Các sản phẩm và làng nghề nổi tiếng của tỉnh như: hồng Nghi Xuân, bưởi Phúc Trạch (Hương Khê), cam đường Hương Sơn, quạt giấy Thịnh Xá, nón Kỳ Anh, muối Hộ Độ, nghề mộc ở Vân Chàng, Thái Yên (Can Lộc), Xa Lang (Hương Sơn).

Trong 2 năm 2009 - 2010, kinh tế tỉnh Hà Tĩnh cũng có nhiều chuyển biến. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 12%. Đến năm 2010 có cơ cấu GDP: Công nghiệp - xây dựng 35%; thương mại - dịch vụ 37%; nông - lâm - ngư nghiệp 28%; sản lượng lương thực có hạt đạt trên 55 vạn tấn; giá trị sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp đạt từ 25 - 30 triệu đồng/ha; thu nhập bình quân đầu người trên 10 triệu đồng/năm; thu ngân sách nội địa trên 1.200 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 120 triệu USD. Mục tiêu sắp tới của tỉnh là phấn đấu từ một tỉnh nông nghiệp sớm trở thành tỉnh có ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển để tạo nền tảng đến năm 2015, Hà Tĩnh có thể trở thành một trong những trung tâm công nghiệp của miền Trung.

Văn hoá
 

Hà Tĩnh là một vùng quê nằm trên dải đất miền Trung, thiên nhiên không mấy ưu đãi, nhưng Hà Tĩnh thường được coi là nơi "Địa linh nhân kiệt". Trong khó khăn gian khổ, con người đã vươn lên tạo dựng được một đời sống tinh thần phong phú, để lại cho muôn đời sau những giá trị văn hoá to lớn. Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng về văn chương, khoa bảng và cũng rất đỗi anh hùng.

Hà Tĩnh có lịch sử lâu đời. Những di khảo cổ học cho thấy quần cư của người Việt cổ đã tồn tại cách đây hàng ngàn năm. Cuộc sống sản xuất, đấu tranh với thiên tai, giặc giã khiến con người nơi đây vừa gan dạ, vừa lạc quan yêu đời, gắn với một nền văn nghệ dân gian dồi dào mà đậm đà, chân chất. Những câu chuyện kể dân gian, truyện cười, những sự tích về núi sông đến các hình thức giao lưu bằng nghệ thuật múa, hát dân ca, kể chuyện ... thật phong tình và mộc mạc. Quanh núi Hồng Lĩnh còn có cả một kho tàng văn hoá tiềm ẩn đang được khơi dậy; truyền thuyết núi Hồng với 99 ngọn đang là nguồn cảm hứng vô tận của thi ca.

Hà Tĩnh có nhiều làng nổi tiếng về văn hoá, khoa bảng và làng nghề truyền thống. Các làng Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung Lễ, Bùi Xá... nổi danh về truyền thống học hành, khoa bảng và văn chương.

Hà Tĩnh là vùng đất có truyền thống yêu nước, đóng góp rất nhiều vào công cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, vùng đất này nổi tiếng với phong trào Cần Vương và sau đó là cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh những năm 1930 -1931. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Tĩnh đã đóng góp nhiều sức người sức của cho tiền tuyến với những địa danh ghi lại những chiến công oanh liệt của một thời như Ngã ba Đồng Lộc - đèo Mười Cô, núi Nài ...

Trên mảnh đất này, cùng với sự định hình của cư dân nông nghiệp với nghề trồng lúa nước, nghề rừng, nghề biển... là quá trình hội tụ và phát triển của văn hoá dân gian mà tiêu biểu là những làn điệu dân ca Nghệ - Tĩnh mượt mà, ấm áp. Hà Tĩnh còn có nhiều làng văn nghệ nổi tiếng trong vùng như làng hát ca trù Cổ Đạm, chèo kiều Xuân Liên, hát ví phường vải Trương Lưu, hò ví dặm Đan Du, Phong Phú... Nhiều làng nề nếp, phong lưu có nhiều lễ hội, hương ước, phong tục như Kim Chuỳ, Hội Thống, Đan Trường, Kim Đôi, Phù Lưu Thượng... Các làng truyền thống với những giọng hò nổi tiếng quanh núi Hồng Lĩnh, ven dòng sông La, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố đã để lại cho vùng quê Hà Tĩnh và đất nước những áng thơ văn bất hủ, những trước tác quý giá và những khí phách kiên trung. Đó là những di sản văn hoá tiêu biểu bồi đắp cho tâm hồn người Hà Tĩnh qua nhiều thế hệ và là những đóng góp của Hà Tĩnh vào kho tàng văn hoá dân gian của dân tộc.

Danh nhân

Hà Tĩnh là quê hương của nhiều danh nhân nổi tiếng không chỉ giỏi đánh giặc giữ nước mà còn có tài về sáng tác văn thơ. Trong số đó, có thể kể đến Mai Thúc Loan, quê ở Can Lộc, người lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống ách đô hộ của nhà Đường. Thời thuộc Minh có anh hùng Đặng Dung, Nguyễn Biểu (xã Bình Hổ, huyện Đức Thọ).

Hà Tĩnh còn nổi danh với cuộc nổi dậy Hương Khê kéo dài 11 năm dưới sự lãnh đạo của anh hùng Phan Đình Phùng (người làng Đông Thái, huyện Đức Thọ). Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bao trùm ra các vùng thuộc Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình. Căn cứ chính được thiết lập giữa khu rừng núi hiểm trở chạy dài ở phía Tây. Anh hùng Cao Thắng (người làng Lê Động, huyện Hương Sơn) gan dạ, tài trí, chế súng theo kiểu Pháp để đánh Pháp.

Ngoài ra, Hà Tĩnh còn là quê hương của đại thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hoá thế giới, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm văn học Hán Nôm nổi tiếng trong nước và thế giới, trong đó có Truyện Kiều.

Ngoài ra, Hà Tĩnh còn là quê hương của các danh nhân lịch sử, những nhà cách mạng của đất nước như Sử Hy Nhan, Nguyễn Nghiễm, Phan Huy Ích tinh thông sử học; Nguyễn Thiếp giỏi lý học; Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế; Nguyễn Huy Oánh, Bùi Dương Lịch, Phan Nhật Tĩnh là những nhà giáo xuất sắc. Thời hiện đại, vùng đất này cũng là nơi sinh trưởng của Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Khắc Viện, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đình Tứ và nhiều tên tuổi lớn khác... Đây cũng là quê hương của hai nhà hoạt động cách mạng là cố Tổng Bí thư Trần Phú và Hà Huy Tập.

Giao thông
 

Hà Tĩnh cách Hà Nội 340 km, giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ đều thuận lợi. Hà Tĩnh có quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt quốc gia đi xuyên suốt chiều dài của tỉnh, có quốc lộ 8A nối trung tâm thị xã Hồng Lĩnh với Lào, Thái Lan, là con đường đẹp nhất Việt Nam năm 1999. Ngoài ra, cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, cảng biển nước sâu Vũng Áng có thể cho tàu 5 vạn tấn cập bến.

- Đường bộ: Hà Tĩnh có bốn đường quốc lộ chạy qua và 27 tuyến đường tỉnh lộ, với tổng chiều dài 387 km. Nếu tính cả giao thông nông thôn, tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn tỉnh là 2.917 km.

- Đường sắt: Đường sắt đi qua địa phận Hà Tĩnh dài 70 km (qua Đức Thọ, Vũ Quang, Hương Khê). Trong suốt các tuyến đường sắt có nhiều nhà ga hành khách và hàng hoá, thuận lợi cho trao đổi hàng hoá của các vùng dân cư của các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, các tuyến đường từ các trung tâm kinh tế nối vào đường sắt còn thiếu, do đó phát huy tác dụng của đường sắt vào phát triển kinh tế còn hạn chế.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt