<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Hàm Long
Đông Triều - Quảng Ninh

Ngôi chùa ở trên núi Đông Sơn, còn gọi là chùa Đông Sơn, thuộc làng Bích Nham, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chùa dựng từ đầu thế kỷ XIII, là 1 thiền viện có danh tiếng đời Trần, các vua Trần thường đến thăm thiên vãn cảnh ở đây. Trong thơ Trần Anh Tông (1293-1314), có ý nói cảnh đẹp chùa Hàm Long này không kém Ngũ Đài Sơn của Trung Quốc. Với Trần Minh Tông (1314-1329), thiền viện này chẳng mấy ai bì. Am Liểu Nhiên trong chùa được Trần Nghệ Tông (1370-1372) đặc tả, ca ngợi. Còn Nguyễn Trãi (1380-1442) dưới thời thuộc Minh, từng gửi gắm tâm sự nơi chùa Hàm Long thanh vắng này.


phố Hàm Long - Quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội

Vị trí
 

Chùa Hàm Long hiện toạ lạc tại phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi chùa cổ nổi tiếng của vùng đất thủ đô. Trước đây, chùa thuộc thôn Hàm Châu trong tổng Hậu Nghiêm (sau đổi thành tổng Thanh Nhàn), huyện Thọ Xương và ở khu vực Đông Nam kinh thành. Đây là một khu đất có từ lâu đời trước khi thành lập kinh đô Thăng Long. Thần phả để ở chùa Tứ Tổng (xã Tứ liên, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) cho biết: Hàm Châu tên cổ là Hàm Long, tên một giáp thuộc phường Phục Cổ. Từ La Thành (thành bao quanh kinh thành hiện nay là các đường Trần Khát Chân, Đại Cồ Việt, nối liền với đường La Thành ở phía Bắc) đã hình thành thế đất "hai con rồng quấn nhau, ngậm hạt ngọc châu" (lưỡng long tương nhiễu, hàm châu chi địa).

Cùng với dòng suối nhỏ, vết tích của con sông Nhị ở bên trong đê với những gò đống phía trước, phía sau, khung cảnh đã được các nhà phong thuỷ đánh giá:

Hàm Long quí cách

Tỉnh khẩu song khai

Nghĩa là: thế đất quý rồng ngậm (hạt ngọc châu), đôi miệng giếng rộng mở. Hai miệng giếng được coi như hai viên ngọc của đôi rồng.

Truyền thuyết
 

Chùa Hàm Long ban đầu là đền, sau mới chuyển thành chùa và chùa vẫn mang dấu vết của đền. Chùa cũng thờ vị thần trước kia ngự ở đền.

Sự tích của thần được ghi trong thần phả như của chùa Tứ Tổng nói trên. Thần phả và thần tích cũng có nhiều điểm không phù hợp với sự thật lịch sử, nhưng vẫn có giá trị như những câu chuyện đã ăn sâu vào tâm trí người dân qua bao đời.

Thần phả nói về vị Long thần được thờ ở chùa vốn tên là Ngô Long, sống dưới thời Hùng Vương thứ 18. Theo thần phả, thời Hùng Vương thứ 18 có ông Ngô Tín người Quảng Tây Xuyên (Trung Quốc) chạy loạn thời Tần Thuỷ Hoàng trốn sang Ái Châu (Thanh Hoá ngày nay) làm nghề thuốc, được ít lâu lại chuyển về vùng làng Thanh Quả, nay là Sinh Quả, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Vốn tính thuần hậu và là một lương y giỏi, ông được mọi người quý mến. Ông đã kết duyên với một người con gái họ Vũ, ở một gia đình đã được ông chữa khỏi bệnh. Ông lại hâm mộ đạo Phật. Làng có một ngôi chùa không có người đèn nhang, thấy ông đạo đức, làng mời ông ra làm thủ tự.

Ông thường than thở với vợ về việc lấy nhau đã hàng chục năm mà chưa có người nối dõi. Vì vậy hai vợ chồng thường khuyên nhau ăn ở phúc đức và làm nhiều việc thiện.

Một đêm, ông nằm ở Phật đường, mộng thấy có Thiên tướng hiện lên nói: "Nay triều Hùng vận kém, thiên đình cho Long Thần giáng thế để phò xã tắc".

Hai vợ chồng ông rất mừng càng dốc tâm làm việc thiện. Rồi vợ ông có thai, được 13 tháng sinh ra một người con trai. Nhớ lời thần trong mộng, ông đặt tên con là Long. Lớn lên, cậu bé Long thông minh, đĩnh ngộ được cha mẹ cho đi học, giỏi cả văn lẫn võ, được thầy bạn yêu mến. Năm 10 tuổi, cha mất, cậu phải nghỉ học. Năm 12 tuổi, mẹ lại mất, cậu phải tới ở nhà ông cậu ruột, là một nhà trọc phú. Ông này bắt cậu phải chăn trâu, kiếm củi. Cậu rất chịu thương chịu khó, được nhiều người tin yêu, nhất là các bạn mục đồng. Trong đám bạn này có nhiều bạn nghèo đói, cậu lấy trộm của ông cậu tiền gạo đem cho. Ông cậu phát hiện liền đánh mắng và ngăn cấm. Thế nhưng Ngô Long vẫn tiếp tục, có lần còn lấy cả đàn lợn phân phát cho những người nghèo. Ông cậu tức giận đánh đập và đuổi đi. Ngô Long phẫn chí, bỏ nhà ra thành Đại La, chỉ cách làng ba bốn dặm về phía Bắc.

Cậu đến xóm Hàm Long, phường Phục Cổ tìm vào mấy nhà xin việc, nhưng mọi người thấy cậu tướng lạ khác thường, ngại ngùng không dám nhận. Trời vừa tối, cậu tới ngủ ở ngôi quán đầu xóm, có tên là quán Long Đầu. Đêm nằm chưa ngủ được, ngẫm nghĩ về thân phận, nhân có hòn than, cậu đã ghi lên vách một bài thơ cảm hoài. Bài thơ như sau:

Kim nhật u nhi lai nhật minh

Nhãn trần thuỳ thức hữu long linh

Nhất triều tự khởi phong vân hội

Thảo mộc quần sinh cộng đắc vinh

Tạm dịch:

Hôm nay tăm tối mai bừng sáng

Mắt trần ai thấy rồng uy linh

Gió mây gặp hội tung hoành

Cỏ cây muôn vật tươi xanh vui hoà

Đêm hôm đó, mọi người trong bốn giáp ở phường Phục Cổ đều nằm mộng thấy thần Đất tới báo: hiện có Long thần được thiên đình phái về làm phúc thần, đang ở quán Long Đầu, mọi người phải ra đón rước về. Sau đó, thần đã dẫn dân đến quán chào mừng vị thành hoàng mới. Tỉnh dậy, người nọ nói với người kia cùng một giấc mộng, bèn cùng nhau kéo ra quán, thấy có người đang ngủ, trên vách có đề bài thơ, đọc lên thấy khẩu khí khác thường. Vừa lúc ấy Ngô Long tỉnh dậy. Mọi người nhận thấy đúng như vị thần trong mộng, bèn sụp lạy, kể rõ câu chuyện và tôn lên làm Thành hoàng.

Cậu thanh niên mới đầu ngạc nhiên và từ chối nhưng trước sự khẩn khoản, nhiệt tình, sau phải nhận lời (đó là ngày 2 tháng 2 âm lịch).

Dân xin được rước thành hoàng về ở tại mấy nhà khang trang nhất trong phường. Nhưng Ngô Long đến ở nhà nào thì ban đêm cũng lại thấy rộn rịp hình bóng binh sĩ kéo tới. Mọi người kinh sợ, sau bàn nhau, xin được sửa quán Long Đầu để rước Người ra ở. Từ đó, dân sinh sống an ninh thịnh vượng. Ngô Long lúc này 14 tuổi, vóc người cường tráng, văn võ toàn tài, được nhân dân kính phục.

Hồi đó vào thời Hùng Duệ Vương, tức Hùng Vương thứ 18, vua mở trường thi kén chọn nhân tài. Mấy ngày trước kì thi, vua được tổ Lạc Long Quân báo mộng "sẽ gặp Long thần họ Ngô tên Long người sẽ lập công lớn giúp nước". Đến ngày thi, Ngô Long trúng tuyển, được xếp đầu bảng. Khi vào lễ tạ, vua thấy diện mạo khôi ngô, hỏi tên họ, thấy ứng vào mộng triện, biết là Long thần giáng thế, bèn phong chức Tham tán Quân sự. Được hai năm, thăng chức Đô đài giám sát, kiêm Chưởng ấn quốc vụ. Vài năm sau nữa lại được phong chức Thái bảo Quốc chính.

Nhân trong nước vô sự, ông được vua cho phép về thăm nơi được thờ ở phường Phục Cổ và ngoại quán là làng Thanh Quả. Dân hai nơi đã đón rước long trọng. Riêng ở giáp Hàm Long, phường Phục Cổ, ông cho tiền dân để sửa sang quán Long Đầu thành nơi an nghỉ mỗi khi ông có dịp về thăm. Ngoài ra, ông còn cho giáp Hàm Long 6 hốt hoàng kim để tu sửa cung miếu, nơi sau này dân làng gọi là làng Hội Khánh.

Khi đó có giặc Hồ Lư ở Hoan Châu (Nghệ Tĩnh), vua Hùng Duệ Vương phong Ngô Long làm Đại nguyên soái, lĩnh quân thuỷ bộ đi dẹp giặc. Ông đã thắng lớn, chém đầu tướng giặc Hồ Lư. Vua khen thưởng cho làm đốc lĩnh Hoan Châu và năm sau lại kiêm Đề đốc Sơn Nam. Được vài năm, ông được vời về triều trao chức Phụ đạo Quốc tể (thầy dạy vua còn nhỏ tuổi).

Ít lâu sau, người cầm đầu bộ tộc Ai Lao là Thục Phán mưu đồ đánh chiếm Văn Lang đã đưa đội binh mã tiến theo hai đường cả thuỷ lẫn bộ, từ bể Thần Phù đánh lên và từ Cao Bằng đánh xuống. Thế giặc rất lớn. Thời kì này vua được Tản Viên, tức Sơn Tinh làm phò mã, định nhường ngôi cho nhưng Tản Viên không nhận. Được tin giặc, Tản Viên cử Phụ đạo Quốc tể Ngô Long làm thống chế thuỷ bộ nguyên soái Đại Tướng Quân, đem đại binh chặn giặc. Ngô Long đã đón đánh quân Ai Lao cả hai mặt thuỷ và bộ đều toàn thắng, bắt sống được nhiều quân giặc và thu được nhiều binh khí đưa về kinh sư.

Trên đường về, đoàn quân chiến thắng đi qua giáp Hàm Long, phường Phục Cổ, toàn dân ra chúc mừng đón rước vào cung Hội Khánh. Ngô Long cho mở tiệc khao thưởng quân sĩ và dân chúng. Yến tiệc đang vui, bỗng mây đen kéo tới, đất trời tối đen, sấm chớp ầm ầm. Có tiếng sét nổ lớn, mọi người hoảng sợ. Khi định thần vào cung thì thấy Người đã hoá. Vua được tin rất thương sót vì đã mất một đại thần hiền đức, một nguyên soái có tài bèn ra sắc chỉ phong làm Thượng đẳng Phúc thần, do dân làng Hàm Long phụng sự. Cung Hội Khánh trở thành đền Hội Khánh, cũng gọi là đền Hàm Long.

Thời gian về sau, đền Hàm Long được đổi thành chùa Hàm Long.

Lịch sử - Kiến trúc
 

Từ khi được xây dựng, đền Hội Khánh luôn nghi ngút khói hương. Sang đến triều Lý, vị vua khai sáng là Lý Công Uẩn, thuở hàn vi ở chùa Tiêu Sơn, nên đạo Phật rất được coi trọng. Khi dời đô từ Hoa Lư đến thành Đại La, đổi tên là Thăng Long, vua phát hiện trong địa phận kinh thành mới có đền thờ vị thần Ngô Long, vốn là Long Thần giáng thế và là người có nhiều công lớn trong việc bảo vệ và giữ gìn đất nước dưới thời vua Hùng. Vì vị thần này gắn với dân Việt con Rồng cháu Tiên, lại gắn với cả kinh đô Thăng Long nên vua đã phong lại cho Ngô Long danh hiệu là Long Thần và cho đổi đền Hội Khánh thành chùa, có tên là chùa Hàm Long. Chùa thờ Phật nhưng đồng thời cũng thờ Ngô Long - vị Long Thần có nhiệm vụ bảo vệ chùa, hộ trì Phật pháp. Vua đồng thời cũng ra lệnh cho các chùa trong cả nước đều phải thờ Long Thần.

Đời Trần, vua Trần Nhân Tông (1293 - 1314) xuất gia, soạn kinh điển Phật có đoạn nói về Long Thần vào cuối thời Hùng Vương, tức chư Phật sai giáng sinh để giúp nước, nên đặt danh hiệu "Thập bát Long thần già lam thiên chân bộ tế" tức "Long Thần 18 vị chủ trì chân chính chốn già lam".

Như vậy, ít nhất từ thế kỉ thứ 11, chùa Hàm Long đã xuất hiện cùng với kinh thành Thăng Long, do Lý Thái Tổ ra lệnh thiết lập và đồng thời mở đầu việc thêm vào hệ thống phụng sự trong chùa vị Long Thần tức Ngô Long, vị đại tướng có công dẹp giặc trong nước và ngoài nước từ thời vua Hùng.

Qua các triều đại, chùa Hàm Long nổi tiếng có đông khách thập phương đến viếng. Chùa cũng nổi tiếng linh ứng qua nhiều sự tích của thần Ngô Long trong việc âm phù vua Trần Nhân Tông dẹp giặc Mông Nguyên, giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh... Thần phả cũng cho biết là dưới triều Lê Dụ Tông (1705 - 1729) có việc đi dẹp giặc vùng Cao Bằng - Lạng Sơn, vua sai mật đảo ở chùa Hàm Khánh, tức chùa Thanh Quả, quê ngoại Long Thần và cuộc hành quân đã giành thắng lợi.

Văn bia năm 1714 hiện còn tại chùa Hàm Long cho biết chùa Hàm Long là một ngôi chùa cổ, là nơi danh lam thắng cảnh trong số 36 cõi thiền. Chùa gồm chánh điện, tam quan, gác chuông với các tượng trang nghiêm, sơn son thếp vàng. Thế nhưng, chùa lâu ngày bị mục nát, lại còn bị nhiều người hám lợi xâm chiếm nên điêu tàn, không còn đồ sộ như xưa.

Như vậy có thể nói đầu thế kỉ thứ XVIII, chùa vẫn là một danh lam thắng tích bậc nhất của đất Thăng Long. Đến cuối thế kỉ XIX, chùa vẫn là ngôi chùa sầm uất hàng đầu ở phía Nam kinh thành xưa. Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, một nhà thờ công giáo đã được xây đối diện với chùa và được gọi là nhà thờ Hàm Long. Tuy nhiên, lúc này chùa Hàm Long vẫn giữ được bề thế của một ngôi chùa lớn với đông đảo du khách đến chiêm bái.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chùa Hàm Long bị tàn phá nặng nề do bom đạn và những hành vi  phá hoại của thực dân Pháp và Việt gian. Chính điện cùng các nhà phụ bị phá huỷ, nhiều người đã xây nhà ngay trên đất chùa.

Năm 1953, Thượng toạ Tố Liên và Trí Hải đã đứng lên hô hào các tăng ni, tín đồ Phật tử trùng tu lại ngôi chùa Hàm Long để vừa thờ Phật, vừa là giảng đường dùng để thuyết pháp cho các tăng ni Phật tử. Lúc này chùa có tên là chùa Vạn Hạnh. Vì vậy chùa được xây dựng với kiến trúc khác với các chùa khác trong vùng. Hiện nay di tích chùa Hàm Long còn lại hai giếng được coi như hai hòn ngọc ngậm bên cạnh một cây đại thụ lâu năm. Ngoài ra, chùa còn có hai tấm bia quý giá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) triều Trần Dụ Tông, văn bia do hai nhà văn hoá nổi tiếng đương thời là Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720) và Đặng Đình Tướng (1649 - 1735) viết. Hai bài văn bia trên hai tấm bia được dựng cùng một năm, ghi lại việc trùng tu chùa Hàm Long do công của Thái phi họ Trương, vợ Tấn Quang Vương Trịnh Bính. Trong khu vực chùa còn có hai tháp cổ thờ xá lợi hai hoà thượng từng trụ trì chùa Hàm Long.

Có thế nói chùa Hàm Long là một di tích văn hoá đặc sắc của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, hiện trạng hiện nay của chùa rất bi đát, nguy cơ bị phá hoại nghiêm trọng. Người dân cũng như những nhà văn hoá mong muốn chùa sẽ được khôi phục lại để sẵn sàng đón khách hành hương trong và ngoài nước đến tham quan, lễ bái.


Nam Sơn - Quế Võ - Bắc Ninh

Ngôi chùa trên núi Lãm Sơn, xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Chùa có tháp đá cao chừng 1 trượng (tức là 10 thước ta, tương đương 4m), chứa xá lị Lân Giác thượng sĩ, con thứ 13 của Tấn Quang Vương Trịnh Bính. Tương truyền, vua Lê muốn gả công chúa thứ tư cho ông, nhưng ông từ chối, xuất gia tu hành ở chùa Long Động (núi Yên Tử), sau đến trụ trì ở chùa này và khai sáng ra chùa Liên Phái (tức chùa Liên Hoa), Hà Nội. Năm 1733, thượng sĩ quy tịch, chúa Trịnh cho dựng tháp tại chùa để thờ xá lỵ. Đồng thời, đây còn là nơi tu hành của thiền sư Dương Không Lộ.


Nhơn Bình - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định

Chùa Hàm Long, nay thuộc địa phận thôn Thuận Nghi, xã Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Chùa Hàm Long, là một trong những điểm tập kết biểu tình của đồng bào Tuy Phước trong phong trào đấu tranh thập nhị. Nếu như giá trị kiến trúc điêu khắc của chùa Hàm Long, không thật cao thì trái lại, giá trị lịch sử của quần thể cụm núi Hàm Long –chùa Hàm Long lại rất đặc sắc.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt