<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Trần Đăng Long

Danh thần, danh tướng Trần Đăng Long đời vua Gia Long (嘉隆; 1802-1820) – Nguyễn Ánh, sinh năm Canh Thìn (1760). Nguyên quán huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam không rõ làng xã).

Thuở nhỏ, ông theo gia đình và thân phụ là Trần Đăng Khoa làm quan đời chúa Thế tông Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊;1738-1765) nên lưu ngụ ở Gia Định.

Năm 19, tuổi ông đầu quân theo phò Nguyễn Ánh từ buổi đầu, làm đến chức Khâm sai thuộc nội Vệ úy Thần sách - Nguyễn Ánh cho ông là một tướng tài - lập nhiều chiến công.

Theo Đại Nam liệt truyệnĐại Nam Nhất thống chí - tỉnh Quảng Nam thì Trần Đăng Long trạng mạo khôi ngô, có sức mạnh, nhanh nhẹn, ngay từ hồi còn trẻ đã đầu quân, thường theo Nguyễn Ánh đi đánh Tây Sơn.

Năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Ánh chạy sang Vọng Các, ông bệnh không đi theo được, ẩn ở thôn quê, sợ bị Tây Sơn bắt giả cách câm nhưng vẫn bị Tây Sơn bắt toan giết, rồi sau thoát được.

Năm Kỷ Mùi (1799), theo đi đánh Quy Nhơn được thắng trận, đại binh theo đường bộ về. Năm Canh Thân (1800) quân Tây Sơn vây thành Bình Định, ông theo đại binh đi cứu viện.

Năm Tân Dậu (1801), theo Nguyễn Văn Trương đang đêm vào cửa biển đánh Thuận Hoá, lấy lại được đô thành. Vì có nhiều chiến công được thăng Vệ úy vệ cung vũ, đem binh thuyền đến Bình Định đánh tiếp.

Năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long năm thứ nhất được triệu về; năm Đinh Hợi (1803) ông được thăng Vệ úy vệ tiền nhất quân thị trung khâm sai thuộc nội cai cơ. Mùa thu năm ấy theo vua Gia Long ra Bắc thành, năm sau đắp hoàng thành (kinh thành), dựng cung điện, làm nhà quân, đều đem quân theo làm việc.

Năm Mậu Thìn (1808), ông cùng với hữu tham tri bộ Công là Nguyễn Đức Huyên sung chức duyệt tuyển ở Bình Hoà (Khánh Hoà) về sau mỗi khi gặp kỳ duyệt tuyển, thường cùng với quan văn sung làm.

Năm Kỷ Tỵ (1809), được thăng Khâm sai thuộc nội vệ úy vệ tiền nhất quân thị trung. Năm Bính Tuất (1814), ông được sung làm phó sứ ở Sơn Lăng.

Mùa thu năm Đinh Sửu (1817), theo chức cũ làm lưu thủ trực thuộc doanh Quảng Nam.

Minh Mạng thứ nhất (1820) triệu về kinh, theo chức cũ, trông coi việc Võ khố. Năm thứ 5 (1824) thăng Thống chế doanh tiền phong quân thị nội.

Năm thứ 6 (1825), kiêm quản 3 đội tả vệ, Hữu vệ và Hoàng kiếm rồi thăng phó đô thống chế doanh Hậu quân Thần sách vẫn kiêm quản kho võ khố như cũ.

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), sung làm giám thí trường thi Hội. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827) gia hàm Đô thống kiêm quản cả tào chính.

Mùa đông năm 1828, ông bệnh mất thọ 68 tuổi, được triều đình truy tặng Đô thống, lại gia thưởng 200 lạng bạc, 5 cây gấm Tàu. Ông có 6 người con là: Tự, Phú, Xuân, Thu, Biện, Cận. Tự học được ghi vào sổ anh danh, Phú làm quan đến phó lãnh binh ở Bắc Ninh, Xuân, Thu, Biện, Cận đều làm quan đến cai đội.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt