<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đình Đạo Viện

Đình Đạo Viện thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, đã được UBND tỉnh xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hoá, theo quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 24 tháng 1 năm 2006.

Đặc điểm
 

Theo truyền kể của các cụ cao tuổi trong làng, đình Đạo Viện thờ nhị vị Thành hoàng là Linh Thông và Hùng Đoan đại vương. Hiện nay tại địa phương không lưu giữ được thần tích, sắc phong về các ngài, tuy nhiên qua truyền khẩu, văn tế và đặc biệt qua việc khảo sát nghiên cứu các tư liệu thần tích thần sắc trong vùng thì người được thờ ở đình Đạo Viện có thể tóm tắt như sau: Các ngài sinh ngày 12 tháng 10, là hai trong ba danh tướng dưới thời vua Hùng Duệ Vương (tức Hùng Vương thứ 18). Khi Thục Vương nổi lên muốn chiếm ngôi, nhà vua cử các ngài đi dẹp giặc, khi qua vùng đất này được nhân dân hưởng ứng đi theo rất đông. Giặc tan, trên đường trở về núi Tản Viên thì các ngài hóa, hôm đó là ngày 21 tháng Giêng, nhân dân tôn kính đã lập đình thờ phụng.

Bên cạnh việc thờ nhị vị Thành hoàng làng, đình Đạo Viện còn phối thờ tiến sĩ Nguyễn Quang Luận, người con của quê hương. Hiện trong đình còn lưu giữ được một số tài liệu hiện vật có giá trị như: ngai thờ, hệ thống hoành phi, câu đối, đỉnh đồng, hạc đồng, đặc biệt là hệ thống bia đá gồm 7 bia trong đó tiêu biểu là bia “Sùng tự bi ký” dựng năm Tự Đức 30 (1877), nội dung ghi khắc về công lao cống hiến của Tiến sĩ Nguyễn Quang Luận, nhà khoa bảng, Tiến sĩ, Thượng thư đã có nhiều công lao với quê hương, làng xã.

Hiện trạng
 

Căn cứ vào các nguồn sử liệu và truyền kể của nhân dân địa phương, đình Đạo Viện vốn được khởi dựng từ lâu đời, đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, ngôi đình có quy mô lớn gồm các công trình: Tiền đình 5 gian 2 chái, 4 mái đao cong, hậu cung 3 gian nối với tiền đình tạo thành kết cấu kiểu chữ “Đinh”, hai bên là toà dải vũ, mỗi toà 7 gian, trang trí chạm khắc tinh xảo nghệ thuật. Trước đình còn có một giếng cổ lớn cung cấp nước sạch cho cả làng. Thời kỳ hợp tác xã, khoảng năm 1966-1967, tiền đình và hai dải vũ bị hư hỏng, năm 1976 hậu cung cũng phải tháo dỡ. Năm 1980, làng chuyển vào trong đê, năm 1991 nhân dân địa phương đã cùng nhau góp công, góp của phụng dựng lại ngôi đình trên khu đất đẹp của làng.

Đình hiện nay nằm cách chân đê sông Đuống khoảng 300m về phía bắc, cách lòng sông Đuống khoảng 1km, cách chùa Đại Bi (chùa Tổ) khoảng 500m về phía tây nam. Tuy công trình không có quy mô bề thế như xưa nhưng được làm theo lối cổ truyền gồm 3 gian tiền đình và 2 gian hậu cung tạo thành hình chữ “Đinh”.

Tiền đình có chiều dài 7,7m, chiều rộng 4,5m, bộ khung gỗ, mái lợp ngói, đầu hồi bít đốc, cột trụ, vì nóc làm theo kiểu con chồng giá chiêng, trang trí chạm khắc hoa văn đơn giản; phía trước là hệ thống cửa ván ghép, hai bên cột trụ đắp đôi câu đối.

Hậu cung có chiều rộng 3m, sâu 4,4m, bộ khung làm bằng gỗ xoan chủ yếu bào trơn đóng bén, tại đây có ban thờ xây khá cao để bài trí các đồ thờ tự. Trong cùng là ba ngai thờ, phía trước đặt đỉnh đồng, nến đồng, hạc đồng, bát hương, lọ hoa...

Phía trước toàn bộ công trình chính của đình là sân gạch, xung quanh khu vực di tích được trồng nhiều cây cổ thụ, tạo không gian cảnh quan xanh, thoáng đãng và linh thiêng cho ngôi đình.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt