<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Bảo Tháp
xã Đông Cứu - huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh

Đặc điểm
 

Chùa Bảo Tháp có tên chữ là “Thiên Thư tự”, tọa lạc ở phía Nam núi Thiên Thai, thuộc thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Truyền rằng vốn xưa là khu nhà ở của Trạng nguyên Thái sư Lê Văn Thịnh, sau khi ông bị vu oan vào tội “hóa hổ” ở hồ Dâm Đàm (nay là Hồ Tây - Hà Nội) và bị đày ở vùng Thao Giang, dân làng và con cháu đã hóa gia vị tự nhà của ông thành ngôi chùa để thờ Phật, tránh sự truy nã tàn phá của những kẻ gian thần trong triều Lý. Nhưng trải qua thăng trầm lịch sử, ngôi chùa đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo và còn để lại dấu ấn của thời Nguyễn.

Hiện trạng
 

Hiện chùa Bảo Tháp gồm toà Tam Bảo và công trình phụ trợ khác như: nhà tổ, nhà Mẫu, tam quan, tháp. Toà Tam Bảo dựng trên một nền đất khá cao, kiến trúc kiểu chữ “Đinh” gồm 5 gian Tiền đường và 3 gian Thượng điện; tường xây bình đầu bít đốc tay ngai. Bộ khung gỗ lim và còn dấu ấn của năm trùng tu vào thời vua Bảo Đại năm thứ 14 (1939) với dòng chữ Hán trên câu đầu “Hoàng triều Bảo Đại thập tứ niên tuế thứ Kỷ Mão trọng hạ nguyệt cát nhật lương thời thụ trụ thượng lương đại cát xương” (Thượng lương được dựng vào giờ đẹp ngày lành giữa mùa hạ năm Kỷ Mão triều vua Bảo Đại 14 - 1939).

Giá trị nổi bật của chùa Bảo Tháp là hệ thống tài liệu, hiện vật còn bảo lưu gìn giữ được như: hệ thống tượng Phật thời Nguyễn (Tam thế, Di Đà Tam Tôn, Tuyết Sơn, Di Lặc, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Cửu Long, Đức Ông, Đức Thánh Hiền), đại tự, chuông đồng, bia đá, ván khắc kinh. Đặc biệt, chuông đồng có tên “Thiên Thư tự chung” được đúc vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835), thân chuông cao 80cm, đường kính miệng 56cm, quai cao 35cm là đôi rồng quấn đôi công phu nghệ thuật. Bức đại tự với dòng chữ Hán lớn “Đại hùng bảo điện”. Hệ thống bia đá có tên như sau: “Hậu Phật bi ký” niên đại Minh Mạng năm thứ 17 (1836); tấm bia đá “Thái sư tự bi ký” được dựng năm Nhâm Thìn thời Lê (1612), nội dung cho biết về sự công đức của dân làng và thập phương để tu bổ chùa Bảo Tháp.


Thôn Thượng Phúc - Xã Tả Thanh Oai - Thanh Trì - Hà Nội

Chùa Bảo Tháp còn có tên gọi là chùa Thượng Phúc (theo địa danh của làng), chùa Bồ Đề (hay chùa Bồ Tát). Hiện nay chùa Bảo Tháp thuộc thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Từ trung tâm thành phố tới ga Hàng Cỏ, đi tiếp theo hướng Nam, qua Văn Điển, rẽ phải tới Cầu Bươu, rồi rẽ trái theo đường đá ven sông Nhuệ, đi chừng 6km là tới chùa.

Lịch sử - Truyền thuyết

Truyền thuyết kể rằng chùa Bảo Tháp được xây dựng từ thời Lý , vị sư tổ đầu tiên của chùa là Lý Thâm (con vua Lý Cao Tông, chú của Lý Chiêu Hoàng) đến lập am tu, chân thân của Ngài đã hóa thành địa mạch liên hoa, nay tại chùa còn bảo tháp và đôi câu đối:

Hộ quốc, xuất gia, bát đại thiên hoàng quang Lý diệp
Chân thân hóa Phật, thiên thu địa mạch dũng liên hoa.

Dịch nghĩa:

Giúp nước, tu hành dòng dõi tám đời nhà Lý
Chân thân thành Phật, ngàn năm địa mạch đài sen

Đến thế kỉ thứ XIV, có một vị cao tăng họ Hồ, gọi là Hồ Bà Lam đến tu tại chùa, đồng thời bỏ tiền ra mở rộng chùa và chiêu tập trẻ em mồ côi cũng như những người thất cơ lỡ vận để cứu giúp, nuôi dưỡng. Vì thế, người đời tôn xưng ông là Bồ Tát và ông đã để lại tên cho chùa. Nhân dân trong vùng còn có câu ca nói đến ông:

Cô nhi quả phụ các nơi
Đến chùa đều được Tổ nuôi hàng ngày
Không cơm mặn thì cơm chay
Nhiều khi Tổ phải đi “vay” nuôi người

Ngài tu ở chùa cho đến khi Hoàng thái hậu Minh từ Hồ Thuận Nương (mẹ vua Trần Nghệ Tông, vợ vua Trần Minh Tông) về lánh nạn khi Chiêm Thành đánh phá Thăng Long. Bà mến cảnh chùa, mộ đạo Phật, nên xin ở lại chùa đi tu. Nhà sư thấy bà tướng mạo cốt cách quả là người nhân hậu, có căn duyên nên đã trao truyền Y Bát rồi tự lên giàn hỏa, hóa Phật. Đó là ngày 14 tháng Tư. Sử cũ không chép về sự kiện này, nhưng tại Thượng Phúc, mỗi khi nhà chùa làm giỗ Tổ, các bà vãi lại hát chèo đò, kể hạnh:

Tổ ngồi niệm Phật ung dung
Mặc cho lửa cháy tứ tung bốn bề
Dân làng thương khóc thảm thê
Tổ bảo: “Đi về, đừng có khóc thương
Ta lên Cực Lạc Tây Phương
Tháng Tư - Mười Bốn ta thường về đây…

Hiện nay tại khám thờ Tổ vẫn còn tượng pháp của Ngài và đôi câu đối:

Lục dương sơ bát thời, Thần giáng phi duy Tây hữu
Tứ nguyệt thập ngũ nhật, Phật thành khởi thị Nam vô

Dịch nghĩa:

Tháng sáu, ngày tám thần giáng, chẳng phải Tây Trúc mới có
Tháng tư, ngày rằm thành Phật, khởi tự nước Nam.

Sau khi Tổ tự thiêu hoá Phật, Minh Từ thái hậu ở đây tu tập. Từ khi trông coi chùa Bảo Tháp, trong hơn ba năm, bà cho tu sửa chùa, lại xây thêm chùa Phúc Khê (còn gọi là chùa Dâu thờ Pháp Vũ) ở cuối làng. Đức độ của bà được dân mến phục, khi triều đình đón bà về kinh, làng lưu luyến tiễn đưa. Đúng lúc đó có đám mây ngũ sắc sà xuống bao phủ, khi mây tan, bà đã không còn ở cõi trần. Dân liền lập miếu thờ ngay trên nền đất nhà cũ, gọi là miếu Minh từ.
Khi Bình Định vương Lê Lợi khởi nghĩa, mang quân ra Bắc đánh quân Minh hành quân qua miếu Minh từ nghỉ lại, vua Lê được bà Minh từ báo mộng sẽ âm phù giúp vua “kháng Minh phục quốc”. Nhà vua tiến quân chém được Liễu Thăng, bức hàng Vương Thông, giải phóng Thăng Long, lập lại nền độc lập tự chủ. Nhớ ơn bà, vua Lê đã sắc phong đức Minh từ Hồ Thuận Nương là “Thượng Đẳng Phúc Thần Hưng Quốc”, sắc cho xây dựng đền miếu thờ làm Thành Hoàng làng.
Nay tại Minh từ và đình còn đôi câu đối ca ngợi:

Đế hậu vị tha, sơn thế cao phong tiêu vũ trụ
Thần uy Phật đức, độ nhân phúc lượng đẳng hà sa

Dịch nghĩa:

Lòng thương của Đế hậu cao như núi, sánh cùng vũ trụ
Uy đức Thần Phật cứu người, phúc nhiều như cát sông.

Kiến trúc

Chùa Bảo Tháp là một quần thể kiến trúc khá rộng lớn, trải dài thành một khu đất thoáng mát bên bờ sông Nhuệ. Tam quan chùa là một toà nhà ba gian, liền phía trước hai tường hồi là hai cột trụ trên đỉnh được trang trí hình hai con nghê. Qua tam quan vào sân chùa, trong có hai bảo tháp lớn hình bát giác ba tầng. Qua sân đến nhà tiền đường được trang trí lưỡng long chầu nguyệt, các góc mái trang trí hình con li. Bộ khung tiền đường được trang trí cảnh Đường Tăng đi thỉnh kinh cùng ba đồ đệ. Sát tường hậu và tiền đường có xây bệ, trên đặt tượng Hộ Pháp, Thánh Tăng và Đức Ông.

Hậu cung được nối liền với tiền đường tạo thành một nội thất thống nhất. Giữa hậu cung đắp các bệ thờ, trên đặt các tượng Phật Tam thế, A Di Đà, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thích Ca... Ở hai bên tiền đường đặt tượng Thập Điện Diêm Vương, La Hán, Hành Giả, Quán Âm Nam Hải và Quán Âm toạ sơn, hai bên đầu Thượng điện còn có hành lang. Cách tường hậu của gian Thượng điện một sân hẹp là nhà phương đình tám mái với bộ khung chạm khắc hình rồng, mây, ly, quy, phượng. Đây là nơi thờ sư tổ Hồ Bà Lam. Toà thờ Mẫu, nhà trai và khu phụ lui về phía trái của chùa chính.

Ngoài các tượng Phật có giá trị nghệ thuật cuối thế kỉ XVIII, hiện nay chùa còn giữ lại được tấm bia Bảo Tháp tự bi ghi niên hiệu Quang Thái thứ 4 (1391). Nội dung bia ghi: Đất chùa Bảo Tháp. Đến ngày 15 tháng 3 năm Đinh Tị, niên hiệu Thiệu Bình thứ 4 (1437), ghi thêm việc tiến cúng ruộng vào chùa này, có tín chủ họ Ngô là Ngô Thì Bảo cúng 14 mẫu cho chùa. Tấm bia này được coi là tấm bia có niên đại sớm nhất, đã được dập dịch hiện có trong các di tích Hà Nội. Ba quả chuông đồng (một quả đúc năm Gia Long thứ 11 (1813), một chiếc khánh đồng đúc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), một biển gỗ khắc bài kí viết vào niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726)) nói về việc tu sửa chùa cùng nhiều đồ dùng khác.

Chùa Bảo Tháp đến nay vẫn là một di tích có nhiều yếu tố kiến trúc và điêu khắc mang giá trị nghệ thuật tiêu biểu. Chùa đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1990.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt