<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Di sản văn hoá phi vật thể
Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đợt 4

Sơ lược
 

Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch vừa ban hành Quyết định số 3820/QĐ-BVHTTDL công bố danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đợt 4.

Chi tiết
 

Theo nội dung của quyết định trên, có 8 di sản văn hóa phi vật thể thuộc các loại hình: Lễ hội truyền thống; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Nghề thủ công truyền thống và Nghệ thuật trình diễn dân gian được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tám di sản mới gồm: Lễ hội Roóng poọc của người Giáy và Lễ Pút tồng của người Dao đỏ (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai); Nghề chạm khắc bạc của người Mông (Sa Pa, Lào Cai); Nghề Chàng slaw của người Nùng Dín (huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai); Hát Páo dung của người Dao (Tuyên Quang); Nghi lễ Cấp sắc của người Dao (Tuyên Quang); Nghệ thuật Xòe Thái (Ðiện Biên); Lễ hội Cúng biển Mỹ Long (xã Mỹ Long Bắc, xã Mỹ Long Nam và thị trấn Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh).

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 48 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Thông tin tham khảo
 


Ca trù được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ

Sơ lược
 

Ngày 1.10.2009, tại phiên họp lần 4 của Ủy ban Liên chính phủ công ước UNESCO diễn ra ở thủ đô Abu Dhabi của Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Chi tiết
 

Hồ sơ Ca trù đã được Hội đồng chuyên gia của UNESCO đánh giá:

Ca trù đã trải qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, được biểu diễn trong không gian văn hóa đa dạng, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Ca trù thể hiện ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, có tính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các tổ chức giáo phường. Những giáo phường này đã duy trì các cộng đồng có quan hệ mật thiết, tạo nên nét đặc trưng cho Ca trù. Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội, nhưng Ca trù vẫn có một sức sống riêng bởi giá trị của nghệ thuật đối với văn hóa Việt Nam.

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều cố gắng và có sự hỗ trợ của một số tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ Ca trù, song sức sống của Ca trù hiện nay chưa cao và cần phải được bảo vệ hơn nữa để tồn tại. Việc duy trì thường xuyên và chất lượng nghệ thuật là vấn đề đặt ra đối với công việc bảo vệ Ca trù. Cần phải nâng cao nhận thức về Ca trù để Ca trù có có thêm nhiều công chúng, có vị thế trong xã hội bởi đã từng bị quên lãng từ những năm 1950-1980. Cần hỗ trợ các nghệ nhân lớn tuổi truyền dạy và khuyến khích những ca nương, kép đàn trẻ học hỏi và tham gia truyền dạy.

Kế hoạch hành động để bảo vệ trong hồ sơ được trình bày tổng thể và có tính khả thi. Các báo cáo thẩm định cũng chỉ ra nhiều biện pháp cụ thể, hữu ích. Sự ủng hộ và hỗ trợ của các cơ quan nhà nước cũng góp phần đảm bảo sức sống của Ca trù ở các thành phố và những vùng nông thôn.

Hồ sơ đã có sự tham gia đề cử của nhiều bên liên quan cũng như có bằng chứng đầy đủ về sự đồng thuận, tự nguyện và có hiểu biết đầy đủ của các cộng đồng.

Ca trù đã được kiểm kê và thuộc lĩnh vực quản lý chuyên môn của Viện Âm nhạc, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, điều này cho thấy trách nhiệm và cam kết của quốc gia đối với việc bảo vệ di sản.

Theo Công ước UNESCO 2003, các di sản văn hóa phi vật thể đại diện của các quốc gia sau khi được đề cử, công nhận, sẽ đăng ký vào 2 danh sách di sản của nhân loại đó là danh sách Đại diện và danh sách Cần bảo vệ khẩn cấp và được bảo vệ ở cấp độ quốc tế. Di sản từ danh sách này có thể chuyển sang danh sách khác căn cứ vào hiện trạng, sức sống của di sản.

Tính đến thời điểm hiện tại, Ca trù trở thành di sản phi vật thể thứ 4 của Việt Nam sau Nhã nhạc cung đình, Văn hoá cồng chiêng và Quan họ Bắc Ninh.

Thông tin mở rộng
 

Ca trù là một trong những loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam, xuất hiện vào đầu thế kỷ 16, Ca trù còn có rất nhiều tên gọi, tuỳ từng địa phương, từng thời điểm mà hát ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hay hát nhà tơ…

Biểu diễn Ca trù. Ảnh: vnanet.

Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống phối hợp giữa thơ và nhạc, đôi khi có cả múa. Ca trù có những qui luật chặt chẽ, rõ ràng trong thơ và nhạc, Ca trù là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa ca từ và giọng hát hoà cùng các nhạc khí phách, đàn đáy, trống chầu…

Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong Ca trù, thơ Lục bát và lục bát biến thể có trong Mưỡu, Bắc Phản, Xẩm Huê Tình, hay ngâm theo Sa Mạc hoặc Bồng Mạc, thơ 8 chữ có trong Hát Nói...

Ca trù có khoảng 15 thể hát Chơi, 12 thể hát Cửa Đình, giai điệu không cố định mà tùy theo thanh giọng của lời thơ. Những bài như: Gửi Thư, Hát Ru, Bắc Phản, Mưỡu có những giai điệu khác nhau, cùng một thể Hát nói có cả trăm bài. Ca trù có những nét đặc thù trong hai lĩnh vực thanh nhạc và khí nhạc mà trong các bộ môn âm nhạc khác không có.

Kỹ thuật thanh nhạc của Ca trù rất phức tạp, tinh vi, tiếng Phách phải rõ ràng phân minh, hai phách âm dương chen nhau, xen kẽ, pha trộn, có nhịp mà nghe như không có nhịp, thực mà như hư, hiện mà như ẩn; tiếng Đàn Đáy (chỉ dùng trong Ca trù) khi chân phương, khi dìu dặt, khi mạnh, khi nhẹ...

Một nhóm Ca trù chỉ có 2 nghệ sĩ biểu diễn và một quan viên vừa tham gia biểu diễn vừa phê phán. Ca trù thường được tổ chức  thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản. Ca trù có qui chế về sự truyền nghề, cách học đàn, học hát, có những phong tục trong sự nhìn nhận Đào nương như lễ mở xiêm áo, có qui chế về việc chọn Đào nương đi hát thi (ngoài tài năng và sắc diện phải có đức hạnh tốt).

Thông tin tham khảo
 

Ca trù được công nhận di sản văn hóa thế giới – Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 1.10.2009.

Ca trù được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp – Báo Người Lao Động ngày 2.10.2009.

Ca trù được UNESCO bảo vệ khẩn cấp – vietnamnet ngày 1.10.2009.


Di sản văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên

Ngày 25.11.2005, Văn hóa cồng chiêng các dân tộc Tây nguyên của Việt Nam đã được tổ chức khoa học và giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận kiệt tác di sản phi vật thể.

Đây là di sản thứ hai của Việt Nam (sau Nhã nhạc cung đình Huế) được nhận danh hiệu Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Cuối tháng 9.2004, 6kg hồ sơ về cồng chiêng Tây Nguyên được gửi sang Paris bao gồm: Báo cáo Khoa học đánh giá di sản theo 6 tiêu chuẩn của UNESCO và chương trình hành động phục hồi, bảo tồn và phát huy di sản dày 82 trang (tiếng Việt); 3 băng video minh họa Báo cáo Khoa học; Album ảnh; Băng cassette; Thư mục nghiên cứu về di sản, cam kết và thỏa thuận của cộng đồng và cơ quan quản lý.

Trong 2 Di sản phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận thì Cồng chiêng Tây Nguyên nằm trong hình thái Không gian văn hóa, còn Nhã nhạc Cung đình Huế thuộc về Hiện tượng Văn hóa. Trong đời sống của bà con các dân tộc Tây Nguyên, cồng chiêng xuất hiện trong hầu hết các lễ hội, giữ vai trò là phương tiện giao tiếp giữa con người và thần linh. Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng. Ví dụ dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt... Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ...

Âm điệu của các bài chiêng tùy thuộc vào trạng thái tình cảm của con người trong nghi lễ như: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì có nhịp điệu giục giã...

Việt Nam hiện đã có 7 di sản thiên nhiên và văn hóa được UNESCO công nhận là: vịnh Hạ Long, quần thể hang động Phong Nha - Kẻ Bàng, quần thể cố đô Huế, phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn, nhã nhạc cung đình Huế và văn hóa cồng chiêng Tây nguyên.

Biểu diễn cồng chiêng. Ảnh: cinet

Cồng chiêng là loại nhạc cụ không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá được nghệ nhân chỉnh sửa thành. Các nghệ nhân ở Tây Nguyên thường chỉnh sửa theo 2 phương pháp: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng. Dàn chiêng thường có 2 hay 3 chiếc nhưng cũng có những dàn có từ 6 – 12 chiêng. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng...

Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông.

Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng).

Các dàn 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.

Tham khảo

UNESCO công nhận di sản “Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”- Báo Tuổi Trẻ ngày 26.11.2005.

“Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”- Di sản thế giới - Báo Vnexpress ngày 26.11.2005.

6 kg hồ sơ về …cồng chiêng Tây Nguyên - Báo Tiền Phong ngày 2.12.2005.

Cồng chiêng Tây Nguyên - kiệt tác của nhân loại – Báo Thanh Niên ngày 30.11.2005


Nhã nhạc triều Nguyễn là di sản nhân loại

 

Ngày 7.11.2003, tại Paris, Pháp, ông Koichiro Matsuura - tổng giám đốc tổ chức khoa học và giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tuyên bố công nhận 28 kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, trong đó có nhã nhạc triều Nguyễn của Việt Nam.

Để được công nhận danh hiệu là kiệt tác, hồ sơ phải chứng minh được giá trị đặc biệt của kiệt tác do nhân loại sáng tạo, sức ảnh hưởng, lan toả trong cộng đồng và sự độc đáo của bản sắc văn hoá, tính ứng dụng các chất lượng kỹ thuật và khả năng mang lại hiệu quả. Ngoài ra, kiệt tác phải mang giá trị truyền thống văn hoá, có nguy cơ biến mất do thiếu phương tiện bảo vệ và do quá trình đô thị hoá hay do tiếp biến văn hoá...

Biểu diễn Nhã nhạc. Ảnh: newszing

Với 100 trang viết, 118 ảnh tư liệu, 2 băng video cùng các băng ghi âm thể hiện từng loại nhạc cụ và kỹ thuật biểu diễn bằng tiếng Hán, Việt và nhiều ngôn ngữ khác, hồ sơ nhã nhạc của Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu trên. Sau 2 lần gửi hồ sơ tham dự xét chọn di sản phi vật thể, lần đầu tiên một di sản phi vật thể của Việt Nam đã được tổ chức UNESCO công nhận là di sản nhân loại.

Bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15 nhưng phải đến thời kỳ nhà Nguyễn, Nhã nhạc mới đạt tới trình độ uyên bác như hiện nay.

Trong các điều kiện mà UNESCO đặt ra đối với các kiệt tác đã được ghi vào danh mục nhân loại thì yêu cầu chống nguy cơ thất truyền và biến dạng rất nghiêm ngặt, nếu vi phạm sẽ bị loại khỏi danh sách.

Nhã nhạc hiện nay chỉ tồn tại dưới hai tổ chức dàn nhạc, đó là: Đại nhạc và Tiểu nhạc.

  • Đại nhạc: Là dàn nhạc quan trọng trong hệ thống nhạc lễ cung đình Huế. Dàn nhạc diễn tấu với những trình thức quan trọng nhất trong các buổi lễ, thường được dùng trong các lễ tế như: Tế Nam giao, tế miếu, Đại triều … Đây là dàn nhạc có âm lượng lớn. Nhạc cụ chủ yếu là dàn trống và kèn. Cấu tạo của dàn Đại nhạc:- 2 bộ gõ và bộ hơi, gồm 4 chủng loại, với trên 40 nhạc cụ.

  • Tiểu nhạc: Bài nhạc mang màu sắc trang nhã, vui tươi, thường được dùng trong các buổi yến tiệc của triều đình, trong các lễ đại khánh, tết nguyên đán… âm lượng tiểu nhạc không quá lớn như đại nhạc, nhiều bài bản tiểu nhạc còn có lời ca.

Tham khảo

Di sản trong mắt các nhà thẩm định - Báo Vietnamnet ngày 8.11.2003.

Nhã nhạc triều Nguyễn: kiệt tác của nhân loại - Báo Tuổi Trẻ ngày 8.11.2003.

Nhã nhạc- DSVH phi vật thể thế giới đầu tiên của Việt Nam - Báo TT&VH ngày 27.6.2008.


Hát xoan là Di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp

Sơ lược
 

Ngày 24.11.2011, tại đảo Bali, Indonesia, trong  Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, nghệ thuật hát xoan của Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Chi tiết
 

Theo Ban thẩm định, hồ sơ hát xoan của Việt Nam được đánh giá là hồ sơ làm tốt nhất trên tổng số 33 hồ sơ khẩn cấp được đệ trình lần này.

Hội đồng UNESCO đánh giá, hát xoan là loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo bởi tính cổ xưa, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế kỷ.

Ngoài hát xoan của Việt Nam, tại kỳ họp lần này, UNESCO còn công nhận 10 di sản trong số 23 đề cử của 9 quốc gia gồm: Việt Nam, Indonesia, Iran, Trung Quốc, Brazil, Mali, Mauritus, Mông Cổ và Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.

Thông tin mở rộng
 

Điệu hát nghi lễ và giao duyên

Theo nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, hát xoan có nguồn gốc ở 4 thôn Phù Đức, Kim Đái, làng Thét (xã Kim Đức) và An Thái (xã Phược Lâu) tỉnh Phú Thọ. Ngoài các là xoan gốc, hát xoan còn được hát ở 18 địa điểm khác nhau thuộc khu vực phụ cận đền Hùng.

Hát xoan (điệu hát mùa xuân) hay còn gọi là hát cửa đình, bao gồm nhạc, hát, múa... là các trò diễn hội làng, thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân theo tục giữ cửa đình, phổ biến ở vùng đất Phú Thọ. Hiện ở Phú Thọ có 4 phường xoan, trong đó có 3 phường xoan cổ và phường An Thái mới thành lập.

Hát xoan là lối hát thờ thần, thành hoàng, thuộc dân ca nghi lễ, phong tục gắn với hội mùa của người dân Phú Thọ, hát xoan là hát thờ tín ngưỡng Quốc tổ Hùng Vương.

Ngoài phần nghi lễ, hát xoan còn tập hợp của những điệu hát trữ tình giao duyên, trong lễ hội của làng xoan, sau phần lễ thường có phần hát chơi bời gồm: hát đúm, hát đố, hát đối đáp trai gái... mang dáng dấp của các bài dân ca, ví giao duyên, hát trống quân.

Hát xoan có đủ dạng thức nhạc hát với hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc. Cách hát có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp.

Việt Nam có 2 di sản cần bảo vệ khẩn cấp

Tính đến nay, Việt Nam đã có 5 di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận gồm: nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ Bắc Ninh, ca trù và hát xoan. Trong đó, ca trù và hát xoan là 2 di sản nằm trong danh sách di sản cần được bảo vệ khẩn cấp.

Thông tin tham khảo
 


Quan họ Bắc Ninh là di sản Văn hoá phi vật thể

Sơ lược
 

Ngày 30.9.2009, tại thủ đô Abu Dhabi của Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO công bố là Di sản Văn hóa phi vật thể.

Chi tiết
 

Tại kỳ họp lần thứ 4 diễn ra tại Abu Dhabi (từ ngày 28.9- 2.10.2009) của Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Quan họ Bắc Ninh đã được công nhận là di sản Văn hóa phi vật thể.

Tham dự vòng đề cử các di sản có 111 hồ sơ đến từ 34 quốc gia, nhưng trong số đó chỉ có 76 di sản được ghi nhận là Di sản đại diện của nhân loại, còn 35 hồ sơ không có tên trong danh sách vì chưa đáp ứng được những tiêu chí xét chọn.

Thông tin mở rộng
 

Tiêu chí của Quan họ Bắc Ninh

Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao về giá trị văn hóa đặc biệt, về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và trang phục của Quan họ Bắc Ninh.

Hồ sơ của Quan họ Bắc Ninh đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để trở thành di sản đại diện của nhân loại vì Quan họ được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội của cộng đồng, được cộng đồng 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lưu giữ, trao truyền từ nhiều thế hệ và trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù.

Quan họ Bắc Ninh trở thành di sản sẽ làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và của nhân loại.

Những biện pháp bảo vệ được đề xuất với sự cam kết của quốc gia, chính quyền địa phương và cộng đồng ở Việt Nam cho thấy tính khả thi của các hoạt động bảo vệ di sản.

Hồ sơ đã thể hiện rõ sự tham gia tự nguyện của người dân 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trong việc nhận dạng, kiểm kê giá trị di sản và xác lập các biện pháp bảo vệ.

Nguồn gốc Quan họ

Theo thần tích làng Diềm (hay còn gọi là làng Viêm Xá, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Băc Ninh), công chúa Nhữ Nam là con gái vua Hùng, khi du xuân qua làng Diềm gặp mưa to đã dừng chân tại đây và ở lại dạy người dân cách làm ăn, giáo hoá lễ nghĩa. Trong thời gian nông nhàn, bà dạy người dân các làn điệu hát đối đáp nam nữ.

Sau khi bà mất, người dân lập đền thờ và tôn làm Thành hoàng làng, trong hội đền, ngoài các nghi thức tế lễ dâng hương còn có sinh hoạt “bọn” Quan họ để tướng nhớ bà thuỷ tổ quan họ.

Đến thời Lý, dân ca Quan họ đã phổ biến hầu hết phủ Thiên Đức, nhưng người có công tổ chức hát xướng là quận công Đỗ Nguyên Thuỵ. Quận công đã tổ chức thi hát quan họ với quy mô hàng tổng để mong mỏi đời sau nối dài huyết mạch.

Làn điệu và cách hát Quan họ

Theo thống kê của Hội nghị Quan họ lần thứ 5 vào năm 1973, Quan họ có khoảng 300 làn điệu được phân chia thành những thể loại như: giao duyên, thờ cúng tổ tiên, cầu mưa, cầu may mắn và thịnh vượng, cầu ân phúc của tổ tiên, hát thi (đối điệu đối lời), hát canh (hát vui kiểu thính phòng).

Lối hát quan họ có 36 giọng lề lối (quan họ cổ) như các bài: Đôi bên bác mẹ tương tề, Cái ả, Nhất ngon là mía Lam điền, Đốt đỉnh nhang trầm, Gió đưa cây cải, Cổ kiêu ba ngấn, Vào chùa, Lòng vẫn đợi chờ, Quán Dốc chợ Cầu, Hừ la... Kho tàng quan họ ước tới bốn năm trăm bài. Nhưng dù hát ở đâu thì mở đầu canh hát nhất thiết phải hát theo trình tự các điệu: La rằng, Bạn Lan, Tình tang, Cây gạo...

Thông tin tham khảo
 


Hội Gióng là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại

Sơ lược
 

Vào hồi 18 giờ 20 ngày 16.11.2010 (tức 22h20 giờ Việt Nam) tại thành phố Nairobi (thủ đô Kenya), UNESCO đã chính thức công nhận hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Chi tiết
 

Ngày 31.8.2009, Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật Việt Nam đã hoàn tất hồ sơ đề cử lễ hội Gióng và gửi tới trụ sở UNESCO tại Paris (Pháp).

Trong danh sách xét công nhận năm nay của UNESCO có các di sản văn hóa phi vật thể gồm các làn điệu, điệu múa, lễ hội, các nghệ thuật thủ công bí truyền của 31 nước trên thế giới.

Trong số 46 di sản của 29 quốc gia được UNESCO công nhận năm 2010 có 6 di sản là nghề thủ công truyền thống; 12 di sản là lễ hội; 6 di sản là tri thức dân gian; 20 di sản là nghệ thuật biểu diễn; 3 di sản là ẩm thực dân gian.

Ủy ban xét công nhận di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO gồm 24 thành viên được đại hội đồng các nước tham gia công ước bầu chọn.

Công ước Liên hợp quốc về bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể được ký năm 2003 và hiện đã được 132 nước phê chuẩn.

Thông tin mở rộng
 

Tiêu chí xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Hội Gióng có đủ những yếu tố đáp ứng tiêu chí xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO đề ra thuộc lĩnh vực tín ngưỡng và các sự kiện lễ hội. Đây cũng là Di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực này.

Hội Gióng được UNESCO công nhận là di sản bởi đây là một lễ hội được cộng đồng bảo tồn, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, chứa đựng những sáng tạo mang tầm nhân loại, thể hiện khát vọng hòa bình, thịnh vượng…

Toàn thế giới có 212 di sản được vinh danh

Hiện nay, trên toàn thế giới có 212 di sản được vinh danh Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, trong số này có 5 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ở Việt Nam.

Những di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam được UNESCO công nhận gồm Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù và hội Gióng.

Lễ hội Gióng

Lễ hội Gióng diễn ra ở đền Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội), nơi Thánh Gióng sinh ra và đền Sóc Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội), nơi Thánh Gióng bay về trời. Nội dung của lễ hội là tái hiện sự tích Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân. Bên cạnh đó, lễ hội Gióng còn phản ánh đời sống của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, tín ngưỡng phồn thực...

Diễn ra từ ngày 6- 12.4 âm lịch với nhiều trò diễn xướng dân gian, hội Gióng là một trong những lễ hội lớn nhất ở đồng bằng Bắc bộ trong một diễn trường dài khoảng 3 km gồm đền Thượng, đền Mẫu (thờ mẹ Gióng) và chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội.

Thông tin tham khảo
 


Hội Gióng đền Sóc

Sơ lược
 

Hàng năm, vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch tại đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội lại mở hội Gióng. Hội Gióng đền Sóc nhằm tưởng nhớ Thánh Gióng, người có công đánh đuổi giặc Ân thời Hùng Vương dựng nước.

Chi tiết
 

Hội Gióng đền Sóc diễn ra trong 3 ngày (6, 7 và 8 tháng giêng âm lịch), tại lễ hội có các hoạt động như: lễ khai quang; rước hoa tre; oản phẩm; trầu cau; voi chiến; kiệu Tướng; kiệu cầu Húc….

Đặc biệt, lễ rước hoa tre (là những thanh tre dài 50 cm, đường kính 1 cm, đầu vót thành tơ và nhuộm ngũ sắc) tượng trưng cho roi ngựa của Thánh Gióng được người Phù Linh dâng lễ ở đền Thượng, rước xuống đền Hạ, rồi sau đó phát cho người dự lễ.

Đền Sóc nằm dưới chân núi Vệ Linh (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội), theo truyền thuyết đây là nơi là nơi Thánh Gióng dừng chân trước khi bay về trời.

Trong lễ hội đền Sóc còn có lễ rước voi của làng Dược Thượng, lễ rước gồm 12 thanh niên khỏe mạnh, vừa đi vừa đánh trống, vừa hò reo. Lễ rước voi bắt nguồn từ truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng đã cho tất cả binh sĩ trở về quê hương, đồng thời ra lệnh thả hết voi và ngựa chiến về rừng. Nhưng có 1 con voi chiến bị người dân thôn Dược Thượng bắt giữ. Vì thế, trong ngày khai hội, người dân địa phương thường đan một con voi bằng tre Đằng ngà rước lên đền Sóc để trả lễ Ngài.

Thông tin mở rộng
 

Hội Gióng diễn ra tại nhiều nơi

Hội Gióng là lễ hội được nhiều vùng tổ chức nhưng trung tâm diễn ra hội Gióng là khu vực đền Phù Đổng và đền Sóc, bao gồm các xã: Đặng Xá, Phù Đổng (huyện Gia Lâm); phường Phúc Lợi (quận Long Biên); các xã Bắc Phú, Đức Hòa, Phù Linh, Tiên Dược, Tân Minh, Xuân Giang (huyện Sóc Sơn) thành phố Hà Nội.

Đền Phù Đổng là nơi Thánh Gióng sinh ra, còn đền Sóc là nơi Thánh Gióng bay về trời, sau khi đánh giặc tan giặc ngoại xâm. Ngoài khu vực 2 đền Phù Đổng và đền Sóc; hội Gióng còn diễn ra ở vùng phụ cận là địa bàn các xã Phù Lỗ, Thanh Xuân (huyện Sóc Sơn), Lệ Chi (huyện Gia Lâm); Xuân Đỉnh (huyện Từ Liêm); Thống Nhất (huyện Thường Tín), thành phố Hà Nội. Hội Gióng còn mở rộng đến một số xã thuộc các huyện Quế Võ, Gia Bình, Lương Tài của tỉnh Bắc Ninh.

Hội Gióng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Ngày 16.11.2010, tại kỳ họp thứ 5 của Ủy ban liên chính phủ theo Công ước năm 2003 của UNESCO ở thành phố Nairobi (thủ đô Kenya) đã công nhận hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Thông tin tham khảo
 


Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đợt 1

Sơ lược
 

Ngày 27.12.2012, Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 5079 công bố danh mục 33 di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đợt 1.

Chi tiết
 

Trong số 33 di sản nằm trong danh mục có 7 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO vinh danh, 1 di sản đang chờ UNESCO xem xét và 25 di sản được lựa chọn trên cơ sở các hồ sơ của các địa phương gửi tới trong 2 năm 2011 và 2012.

Trong danh mục di sản đợt 1 gồm các loại hình như: âm nhạc, võ cổ truyền, múa rối nước, dân ca, lễ hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các dân tộc, chữ viết, tranh dân gian, nghề truyền thống...

Thông tin mở rộng
 

Danh mục các loại hình di sản văn hóa phi vật thể được công nhận gồm: 11 di sản thuộc lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn dân gian (Nhã nhạc - Âm nhạc Cung đình Việt Nam; Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Ca trù; Hát Xoan Phú Thọ; Đờn ca Tài tử Nam bộ; Dân ca Cao Lan; Dân ca Sán chí; Dân ca Ví Dặm xứ Nghệ; Võ cổ truyền Bình Định và Múa rối nước); 12 di sản thuộc lĩnh vực lễ hội truyền thống (Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc; Lễ hội Yên Thế (Bắc Giang); Lễ hội Thổ Hà (Bắc Giang); Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn (Hà Giang); Lễ hội Côn Sơn (Hải Dương); Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương); Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng); Lễ hội Cầu Ngư Khánh Hòa; Lễ hội Gầu Tào (Lào Cai, Hà Giang); Lễ hội Kỳ Yên ở đình Gia Lộc (Tây Ninh); Lễ hội Tháp Bà (Ponagar) Nha Trang; Lễ hội Lồng Tông của người Tày Tuyên Quang); 7 di sản thuộc lĩnh vực tập quán xã hội và tín ngưỡng (Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô (Hà Giang); Nghi lễ cấp sắc của người Dao (Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái); Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo (Hà Giang); Lễ bỏ mả của người Raglai (Khánh Hòa); Nghi lễ chầu văn của người Việt (Hà Nam, Nam Định); Nghi lễ then của người Tày (Lào Cai, Quảng Ninh, Tuyên Quang).

Loại hình tiếng nói, chữ viết là chữ Nôm của người Dao (Bắc Kạn). Loại hình nghề thủ công truyền thống gồm: Tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), Nghề làm gốm của người Chăm (Bình Thuận).

Thông tin tham khảo
 


Nghi lễ Then là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Sơ lược
 

Sáng 17.2.2013, tại thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã diễn ra lễ đón nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nghi lễ Then.

Chi tiết
 

Nghi lễ Then của dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang là những khúc hát, điệu múa được sử dụng trong các lễ cúng chữa bệnh, giải hạn, cầu mùa, lễ cốm, lễ cấp sắc...

Ở tỉnh Tuyên Quang, vùng hát Then tập trung tại các huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình...

Hiện nay, hát Then gồm 2 dạng chính là Then cổ (Then tâm linh phục vụ tín ngưỡng) và Then mới (Then văn nghệ được cải biên theo làn điệu Then cổ) hát Then có nhiều loại như: Then cầu phúc, cầu tài, cầu lộc; Then kỳ yên giải hạn; Then buồn vui....

Thông tin mở rộng
 

Ngày 27.12.2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định chứng nhận Nghi lễ Then của người Tày tỉnh Tuyên Quang được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngày 30.5.2012, Chính phủ đã đồng ý lập hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu hát Then của dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang và một số tỉnh khu vực Việt Bắc để đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Thông tin tham khảo
 


Tín ngưỡng thờ vua Hùng là di sản thế giới

Sơ lược
 

Ngày 6.12.2012, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã quyết định công nhận "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ" là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Chi tiết
 

Tại kỳ họp thứ 7 của Hội đồng liên quốc gia về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại UNESCO, hồ sơ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của Việt Nam và 37 hồ sơ khác được đưa ra xem xét và bỏ phiếu chọn làm di sản phi vật thể tiêu biểu của nhân loại.

Để trở thành di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, các hồ sơ phải đáp ứng 5 tiêu chí như tính cấp bách hay tính đại diện, có sự thực hành tốt nhất trong đời sống, có sức lan tỏa và khích lệ…

Tín ngưỡng thờ Hùng Vương khác với những di sản đã được công nhận trước đó là yếu tố thờ Quốc tổ. Nền tảng của việc thờ Quốc tổ chính là tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam có từ xa xưa, từ đó phát triển thành việc thờ Quốc tổ của toàn dân tộc.

Việt Nam hiện có 1.417 di tích thờ các vua Hùng và tổ chức lễ hội hàng năm để bày tỏ tấm lòng tri ân tiên tổ.

Thông tin mở rộng
 

Tục thờ cúng Hùng Vương đã phát triển rất mạnh từ thế kỉ 12 và chính thức được vinh danh vào thời Lê Thánh Tông (1470). Từ đó đến nay, việc tôn vinh Quốc tổ được duy trì trong toàn cộng đồng và liên tục phát triển, mở rộng.

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 7 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh (Không gian cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình Huế, Ca trù, Quan họ, Hội Gióng, Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương).

Thông tin tham khảo
 


Tranh dân gian Đồng Hồ là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia

Sơ lược
 

Ngày 16.3.2013, tại Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh đã diễn ra lễ đón nhận bằng di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho tranh dân gian Đông Hồ.

Chi tiết
 

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) xuất hiện từ thế kỷ 16, sau đó phát triển thịnh hành đến cuối thế kỷ 20.

Tranh Đông Hồ được sản xuất bằng phương pháp thủ công truyền thống, sử dụng chất liệu có sẵn trong thiên nhiên, với những mẫu mã, thể loại, chủ đề như: Chúc tụng, sinh hoạt đời thường, trò chơi dân gian, tăng gia sản xuất, chăn nuôi, cày bừa, lễ hội...

Điểm khác biệt của tranh Đông Hồ với các dòng tranh dân gian là màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ là giấy điệp được nghiền nát từ vỏ con điệp (một loại sò vỏ mỏng ở biển), trộn với hồ rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông sau khi quét lên giấy sẽ tạo ra những đường quét và vỏ điệp cho màu trắng với ánh lấp lánh từ những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng. Màu sắc được sử dụng trong tranh Đông Hồ được làm từ nguyên liệu cây cỏ như: màu đen là than xoan hay than lá tre, màu xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe)...

Thông tin tham khảo
 


Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Sơ lược
 

Chiều 22.4.2013, sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi công bố lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (đảo Lý Sơn) đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đình làng An Vĩnh (đảo Lý Sơn) đã trở thành di tích quốc gia.

Chi tiết
 

Vào ngày 19.3 âm lịch hằng năm, 13 dòng họ trên huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi lại tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa nhằm tri ân những hùng binh Hoàng Sa đã hi sinh cách đây khoảng 400 năm, khi phụng mệnh triều đình ra quần đảo Hoàng Sa cắm bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam và tuần tra, thu lượm hải vật.

Liên quan tới hùng binh Hoàng Sa là đình làng An Vĩnh, đây là nơi nơi bàn bạc, tuyển chọn binh phu ra Hoàng Sa hàng năm và cũng là địa điểm tổ chức tế tự, xử lý công việc làng xã xưa kia.

Thông tin tham khảo
 


Hát ví dặm là Di sản văn hoá quốc gia

Sơ lược
 

Tối 17.8.2013, tại Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh Hà Tĩnh đã diễn ra lễ đón nhận Bằng công nhận dân ca ví dặm là Di sản văn hóa quốc gia.

Chi tiết
 

Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh được hình thành từ cuộc sống lao động, do vậy tên của các lối hát được đặt dựa theo hình thức lao động sinh hoạt của cộng đồng như: ví phường vải, ví phường đan, ví phường non, ví trèo non, dặm ru, dặm kể, dặm khuyên…

Dân ca ví, dặm vừa có quy cách vừa mang tính ngẫu hứng mang bản sắc của địa phương trong âm điệu, tiết tấu, giai điệu. Ca từ của lối hát ví dặm là những khổ thơ cô đọng súc tích, dễ thuộc, dễ hát.

Thông tin tham khảo
 


Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là Di sản văn hoá Quốc gia

Sơ lược
 

Tối 12.9.2013, tại sân vận động quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã diễn ra lễ đón nhận bằng di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cho hội chọi trâu Đồ Sơn.

Chi tiết
 

Lễ hội chọi trâu truyền thống tại Đồ Sơn ra đời cách nay khoảng 1.000 năm, vào thời Vua Lý Thánh Tông.

Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được lưu truyền qua câu ca dao: "Dù ai đi đâu về đâu/ Mùng 9 tháng Tám chọi trâu thì về/ Dù ai buôn bán trăm nghề /Mùng 9 tháng Tám thì về chọi trâu".

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đến năm 1990, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn mới được khởi phục. Đến năm 2000, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đã được bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch công nhận là một trong 15 lễ hội lớn của Việt Nam.

Thông tin tham khảo
 


Lễ hội nghinh Ông Cần Giờ là di sản văn hoá quốc gia

Sơ lược
 

Sáng 19.9.2013, tại Lăng Ông thủy tướng Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra đón nhận bằng di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cho lễ hội nghinh Ông Cần Giờ.

Chi tiết
 

Lễ hội nghinh Ông (lễ hội Cầu ngư) Cần Giờ là lễ hội nghinh Ông lớn nhất ở khu vực Nam Bộ. Lễ hội nghinh Ông là dịp cầu mưa thuận gió hòa, cầu quốc thái dân an, đặc biệt cầu an cho những người đi biển...

Đây là hoạt động tâm linh có truyền thống từ xa xưa gắn liền với tục thờ cá Ông (cá Voi) phổ biến của ngư dân các tỉnh ven biển từ Quảng Bình trở vào đến Hà Tiên (Kiên Giang).

Lễ hội nghinh Ông Cần Giờ được tổ chức tại miếu thờ lăng Ông Thủy tướng Cần Giờ, miếu được xây dựng từ khi chúa Nguyễn vào Nam. Hiện nay, tại miếu thờ lăng Ông Thủy tướng Cần Giờ đang lưu giữ một bộ cốt cá ông dài 12m gặp nạn và trôi dạt vào bờ từ năm 1971.

Lễ hội nghinh Ông Cần Giờ được tổ chức vào dịp rằm Trung thu hàng năm và kéo dài trong 3 ngày, từ ngày 15-17.8 âm lịch.

Thông tin tham khảo
 


Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đợt 3

Sơ lược
 

Ngày 9.9.2013, bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 3084/QĐ-BVHTTDL, công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 3) với các loại hình Lễ hội truyền thống, Nghệ thuật trình diễn dân gian và Nghề thủ công truyền thống.

Chi tiết
 

Theo nội dung quyết định trên, danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đợt 3 gồm: Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyên Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang); lễ hội Phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định); lễ hội Nghinh Ông (huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh); Hát bả trạo (huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn, thành phố Tam Kỳ và thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam) và nghề dệt chiếu (các xã Định Yên, Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có 40 di sản được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia.

Thông tin tham khảo
 


Tuyên Quang có thêm 2 Di sản văn hoá quốc gia

Sơ lược
 

Tỉnh Tuyên Quang vừa có thêm 2 Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là Nghi lễ Cấp sắc và hát Páo dung của người Dao.

Chi tiết
 

Lễ Cấp sắc là thủ tục công nhận tuổi trưởng thành của đàn ông dân tộc Dao. Sau khi được cấp sắc, người đan ông Dao mới đủ thẩm quyền tham gia các công việc của cộng đồng.

Lễ Cấp sắc của người Dao thường được tổ chức vào các tháng 11, 12 hoặc tháng Giêng hàng năm. Lễ Cấp sắc bao gồm các nghi lễ như: Lễ đội đèn, lễ giữ cây đèn, lễ hạ đèn, lễ giao binh, lễ trình Ngọc Hoàng, lễ cấp bản sắc, lễ tạ ơn ma tổ tiên…

Hát Páo dung là điệu hát dân ca của dân tộc Dao thường được tổ chức vào lúc nông nhàn, khi xuân về với nội dung đề cao tinh thần lao động sáng tạo, phép ứng xử, ca ngợi thiên nhiên, tình yêu đôi lứa. Hát Páo dung có nhiều thể loại như hát giao duyên, hát răn dạy, hát uống rượu, hát tiễn đưa…

Hiện nay, tỉnh Tuyên Quang có 4 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, đó là Nghi lễ hát Then, lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày; hát Páo dung và Nghi lễ Cấp sắc của dân tộc Dao.

Thông tin tham khảo
 


Nam Định có thêm 2 Di sản văn hoá Quốc gia

Sơ lược
 

Tối 22.11.2013, tại tỉnh Nam Định đã diễn ra lễ đón bằng chứng nhận Nghi lễ Chầu văn của người Việt và lễ hội phủ Dầy trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia.

Chi tiết
 

Hai di sản trên đều gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ Tứ phủ của người Việt.

Chầu văn hầu đồng là nghi lễ đặc trưng của đạo Mẫu, diễn ra trong không gian của hệ thống đền thờ Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần. Chầu văn tổng hợp nhiều hình thức văn hóa dân gian như âm nhạc, ngôn ngữ, ca hát, trình diễn (diễn xướng) dân gian…

Hội phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản) là lễ hội tích hợp văn hóa tín ngưỡng thờ Nữ thần (Mẫu) và văn hóa dân gian của cư dân nông nghiệp khu vực đồng bằng Bắc bộ.

Thông tin tham khảo
 


Đờn ca tài tử là Di sản văn hoá nhân loại

Sơ lược
 

Chiều 5.12.2013, tại thành phố Baku, Azerbaijan, Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO đã công nhận nghệ thuật Đờn ca tài tử của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Chi tiết
 

Những di sản văn hóa phi vật thể được công nhận lần này gồm: Kỹ năng dựng lều truyền thống của Mông Cổ; kỹ năng bện thừng làm mới cây cầu treo bằng dây thừng độc đáo Q’eswachaka ở Peru; nghệ thuật làm món kim chi của Hàn Quốc; nghệ thuật trình diễn Colindat (loại hình trình diễn vào dịp Giáng sinh của những người đàn ông vùng giáp ranh Romania và Moldova); lễ Xooy của cộng đồng người Ser ở Senegal; nghệ thuật trình diễn nhạc Terchova truyền thống của Slovakia; lễ hội Holy Forty Martyrs của Macedonia; văn hóa cà phê truyền thống của Thổ Nhĩ Kỳ; lễ hội San Pedro ở thị trấn Guarenas và Guatire; và nghệ thuật đờn ca tài tử của Việt Nam.

Thông tin mở rộng
 

Đờn ca tài tử bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian được hình thành từ cuối thế kỷ 19, đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam bộ, do nam nữ nông thôn hát ca sau những giờ lao động.

Ban nhạc diễn tấu đờn ca tài tử gồm các nhạc cụ: Đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt) và sau này cách tân thay thế độc huyền cầm bằng guitar phím lõm.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí như: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam; được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc…

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có 8 di sản văn hóa phi vật thể nhân loại là Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian cồng chiêng Tây Nguyên, Ca Trù, Quan Họ, Hội Gióng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hát Xoan và Đờn ca tài tử Nam bộ.

Thông tin tham khảo
 


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt