<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Khởi nghĩa Lam Sơn

Sơ lược
 

Ngày 7/2/1418, tại Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa), Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa, xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi kêu gọi người dân các địa phương nổi lên đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi.

Chi tiết
 

Ngày mùng một tháng hai năm Bính Thân (1416,) Lê Lợi cùng 18 người bạn (trong đó có Nguyễn Trãi) cùng tâm huyết và chí hướng làm lễ thề (hội thề Lũng Nhai) kết nghĩa anh em, nguyện sống chết vì sự nghiệp đuổi giặc cứu nước.

Sau hội thề Lũng Nhai, nhiều hào kiệt và người dân bốn phương tìm về Lam Sơn tụ nghĩa. Các nghĩa sĩ khai khẩn ruộng nương, chuẩn bị lương thảo, tập hợp lực lượng, núi rừng Lam Sơn trở thành nơi trú quân, bãi luyện binh, rèn mài khí giới chuẩn bị khởi nghĩa.

Ngày mùng 2 tháng giêng năm Mậu Tuất (ngày 7/2/1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi người nhân dân vùng lên đánh đuổi giặc, cứu nước.

Trong khoảng thời gian 10 năm, lực lượng nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Lê Lợi đã chiến đấu bền bỉ, kiên cường, tạo ra những chiến thắng lịch sử như: Mường Một, Mường Chính, Bến Bổng, Ba Lẫm, Kình Lộng, Sách Khôi... trên đất Thanh Hoá rồi tiến công vào Nghệ An, giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay), sau đó tiến thẳng ra Bắc.

Với 2 chiến thắng lẫy lừng Tốt Động - Chúc Động (tiêu diệt và bắt sống hơn 60.000 quân địch và chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang (tiêu diệt hơn 100.000 viện binh của Liễu Thăng), đến ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (tức ngày 10/12/1427), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thắng lợi. Thành Đông Quan được giải phóng, ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra triều Lê lấy quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Quan, đến năm 1430, đổi là Đông Kinh.

Thông tin mở rộng
 

Trận Chi Lăng – Xương Giang là trận quyết chiến chiến lược diệt quân Minh (Trung Quốc) trên địa bàn từ Chi Lăng đến Xương Giang (nay thuộc Bắc Giang) của nghĩa quân Lam Sơn nhằm kết thúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-1427).

Thành Xương Giang do đô đốc Lý Nhậm cùng các tướng Kim Dận, Cổ Phúc...chỉ huy với khoảng 2.000 quân. Thành Xương Giang có địa thế thành cao, hào sâu, súng thần cơ cỡ lớn và nhiều lương thực dự trữ, là vị trí phòng ngự trọng yếu của quân Minh bảo vệ con đường huyết mạch từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang Đông Quan (nay là Hà Nội).

Tháng 8/1427, lực lượng tiếp ứng của nghĩa quân Lam Sơn do Trần Nguyên Hãn chỉ huy được điều thêm để hạ thành trước khi viện binh địch kéo sang.

Sau khi dùng pháo đặt trên các ụ đất cao khống chế địch và đột phá vào thành bằng đường ngầm, đêm 28/9, nghĩa quân tổng công kích thành từ 4 mặt, sau gần một giờ, thành Xương Giang thất thủ các tướng nhà Minh phải tự vẫn.

Tháng 10/1427, nhà Minh đem 2 cánh quân viện binh sang giải vây cho thành Đông Quan, cánh thứ nhất có khoảng 100.000 quân, từ Quảng Tây (Trung Quốc) tiến theo đường Lạng Sơn, do Liễu Thăng cùng các tướng Lương Minh, Lý Khánh, Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy; cánh thứ 2 có khoảng 50.000 quân, từ Vân Nam (Trung Quốc) tiến vào hướng Lào Cai, do Mộc Thạnh chỉ huy.

Thực hiện chủ trương "vây thành, diệt viện", nghĩa quân Lam Sơn một mặt tiếp tục vây thành Đông Quan và các thành khác, một mặt chặn cánh quân Mộc Thạnh, còn lực lượng chính được bố trí diệt quân Liễu Thăng.

Ngày 8/10, cánh quân Liễu Thăng vượt biên giới, ngày 10/10, bị phục kích ở Chi Lăng, Liễu Thăng bị tử trận ở núi Mã Yên.

Ngày 15 và ngày 18/10, quân Minh tiếp tục bị tập kích, phục kích, thiệt hại nặng ở Cần Trạm và Phố Cát (nay thuộc Bắc Giang), tướng chỉ huy là Lương Minh bị giết, Lý Khánh tự vẫn, Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy số quân còn lại tiến về thành Xương Giang nhưng thành đã bị hạ, quân Minh phải đắp luỹ tự vệ giữa cánh đồng.

Ngày 3/11, nghĩa quân Lam Sơn từ 4 hướng tổng công kích, diệt và bắt toàn bộ quân Minh (trong đó có Thôi Tụ, Hoàng Phúc). Biết tin cánh quân Liễu Thăng bị diệt, Mộc Thạnh vội rút quân nhưng vẫn bị truy kích, mất trên 20.000 quân.

Sau trận Chi Lăng - Xương Giang, tướng Minh là Vương Thông ở Đông Quan buộc phải rút quân về nước.

Lê Lợi làm vua được 5 năm và mất vào ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ.

Lê Thái Tổ khi lên ngôi vua đã cho xây dựng ở Lam Sơn một kinh thành lớn thứ 2 gọi là Lam kinh hay còn gọi là Tây Kinh

Thông tin tham khảo
 


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt