<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Hoàng

Nguyễn Hoàng (阮潢) còn được gọi là Gia Dũ Vương, Thủy tổ nhà Nguyễn, người góp công đầu trong việc mở mang bờ cõi tổ quốc vào miền Nam. Ông là người ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá). Con thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim đời Lê Chiêu Tông. Tục gọi ông là chúa Tiên, miếu hiệu Thái tổ Gia Dũ Hoàng đế.

Năm Đinh Hợi (1527), sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, ông cùng cha theo phò tá vua Lê và lánh nạn ở Lào, được Nguyễn Ư Dĩ (Thái phó của vua Lê, anh ruột mẹ ông) nuôi cho ăn học, luyện tập cung kiếm nhằm khôi phục nhà Lê.

Sau khi Nguyễn Kim chết, ông vẫn phục vụ dưới quyền Nguyễn Ư Dĩ, lập nhiều chiến công, được vua Lê phong tước Hạ Khê Hầu. Ông tự thân cầm quân đi đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng Trịnh Chí. Đến đời Lê Trung Tông, vì có nhiều quân công ông được tiến phong Đoan Quận Công.

Sau khi anh ruột là Lãn Quận Công Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm hãm hại, cậu ruột là Nguyễn Ư Dĩ bàn với ông nên giả mắc tâm tật, cử chỉ thất thường để Trịnh Kiểm khỏi nghi ngờ. Mưu sĩ của Trịnh Kiểm khuyên Kiểm nên trừ ông đi. Có người nghe biết nói lại với ông. Ông lo sợ, cho người đến Hải Dương hỏi ý kiến của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Trình không đáp và chỉ hòn giả sơn trước nhà và có đàn kiến đang bò theo chân núi mà nói: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời). Sứ giả về thuật lại, Nguyễn Ư Dĩ bàn là ông nên lánh mình vào Nam. Nguyễn Hoàng phải nhờ chị là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) nói với Kiểm, nên ông được vào Trấn thủ Thuận Hoá (tương đương với các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế ngày nay).

Năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng cùng với một số họ hàng bà con và binh sĩ vốn quê trước kia ở đất Thanh Nghệ kéo vào Nam chính thức trấn nhậm Thuận Hoá, lị sở tại làng Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) lo chiêu dân lập ấp, mở mang bờ cõi thành một khu vực riêng biệt có nhiều tiềm năng.

Năm Canh Ngọ (1570), Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) vào đánh úp nhằm tiêu diệt lực lượng non trẻ của ông, nhưng với khả năng và trí thông minh của mình ông đã khiến quân Trịnh thảm bại. Kể từ đó hai họ Trịnh-Nguyễn trở nên thâm thù tuy trên danh nghĩa vẫn tôn phù vua Lê và bà con cô cậu.

Trong đời ông việc quân sự, nội trị, ngoại giao đều phát triển, nhân dân sống tương đối ấm no dù ở khu vực mới mở mang. Sách Đại Nam Thực lục (tiền biên) viết: “Đoan Quận Công vũ trị vài mươi năm, chính trị khoan hòa, thường ra ân huệ, dùng pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cầm trấp kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm ân mến đức, chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, quân lệnh nghiêm túc, mọi người đều cố gắng làm việc. Vì vậy không ai dám dòm ngó, dân trong xứ đều được an cư lạc nghiệp”.

Năm Quý Sửu (1613), niên hiệu Hoằng Định thứ 21, ông bệnh nặng, trước khi mất, di chúc lại con cháu và các cận thần:

“Đất Thuận, Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân, núi Thạch Bi vững bền, núi sinh vàng sắt, biển có cá, muối. Thật là đất dụng võ của những bậc anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống với họ Trịnh thì đủ xây dựng được nghiệp muôn đời”.

Ông ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi, an táng ở núi Thạch Hãn (thuộc Quảng Trị), thụy là Gia Dũ vương, nhân dân gọi là chúa Tiên.

Nguyễn Hoàng là người đặt nền tảng cho việc mở mang bờ cõi vào phương Nam. Dòng họ Nguyễn kể từ đời Nguyễn Hoàng Dụ tới Nguyễn Kim đã được người đời liệt vào các bậc anh hùng thời đại. Đến con cháu là Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng càng tỏ ra có được nhiều khả năng và những thủ đoạn lợi hại. Chính vì thế mà sau này dòng họ Nguyễn đã dựng lên triều đại phong kiến kéo dài gần 200 năm.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt