<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Phùng Khoang

Lịch sử
 

Chùa Phùng Khoang có tên chữ là Thanh Xuân tự. Chùa nằm ngay sát cổng làng Phùng Khoang, thuộc quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Trước đây, chùa thuộc xã Trung Văn, huyện Từ Liêm.

Chùa có diện tích 5880 m2. Thời Lê, vùng đất này còn có tên gọi là Phùng Quang, thuộc xã Nhân Mục Môn, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 1723, làng sáp nhập vào huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Thời Nguyễn đổi là xã Ngọc Trục, tổng Đại Mỗ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Năm 1964, làng được nhập vào huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội như đã nói trên.

Theo hai tấm bia khắc năm Đồng Khánh 2 (1887) và Bảo Đại 19 (1944) thì Công chúa Nguyễn Ngọc Nga đã tạo dựng một ngôi chùa ở ven đường làng Phùng Khoang để thờ Phật. Bà cũng có công xin cho Phùng Khoang có một phiên chợ riêng vào ngày 28 tết hàng năm nên chợ cũng có tên là chợ chùa.

Chùa Thanh Xuân gắn liền với sự kiện xảy ra ở Thăng Long năm Quý Hợi (1623). Theo Đại Việt sử kí toàn thư (tập 4) thì tháng 6/1623, chúa Trịnh Tùng bị cảm nên cùng các quan văn võ bàn lập Thế tử để giữ binh quyền, con thứ là Vạn quận công Trịnh Xuân làm Phó tướng.

Hôm sau, Trịnh Xuân bất mãn liền đem quân lính, voi ngựa tấn công vào phủ Chúa cướp vàng bạc, voi ngựa rồi phóng hoả đốt cả phủ chúa. Trịnh Tráng liền sai tướng hộ tống chúa Trịnh chạy ra xã Hoàng Mai, còn Tráng triệu tập các quan văn võ chạy ra chợ Nhân Mục để bàn cách chống lại Trịnh Xuân.

Chúa Trịnh Tùng phải nhờ em là Phụng Quốc công Trịnh Đỗ dụ hàng Trịnh Xuân nói dối rằng chúa gọi Xuân vào để giao binh quyền, nhưng khi Xuân đến, chúa bèn sai lực sĩ bắt trói kể tội rồi giết chết.

Nhưng sau, cha con Trịnh Đỗ có lực lượng mạnh cũng định làm phản nên Trịnh Tráng phải đưa Chúa đến "quán Thanh Xuân, huyện Thanh Oai thì Chúa qua đời ở đấy". Như vậy, lúc đó, chùa Thanh Xuân còn gọi là quán, thuộc huyện Thanh Oai, sau đó mới chuyển thành huyện Thanh Trì.

Sách Việt sử thông giám cương mục (tập 15) cũng cho biết: "Năm Quí Hợi (1623) tháng Sáu mùa Hạ, Trịnh Xuân bất mãn đốt nhà cửa, phố xá trong kinh thành. Trịnh Tùng đang ốm phải lên xe dời khỏi kinh thành. Ngày 20, Chúa mất ở chùa Thanh Xuân".

Kiến trúc
 

Đây là ngôi chùa cổ có kiến trúc hình chữ đinh, lợp ngói cổ. Tam quan hai tầng bằng gỗ. Tầng một tam quan còn tấm bia cao 0,9m, rộng 0,6m dựng năm Chính Hoà thứ 13 (1692) cho biết làng này xưa kia có tên là làng Phùng Quang, xã Nhân Mục Môn. Như vậy, thôn này xưa cùng trong một xã với các thôn Cự Chính, Quan Nhân, Giáp Nhất (nay thuộc xã Nhân Chính), về sau đổi là Phùng Khoang, gọi tắt là làng Khoang với câu ví "Tiền làng Mọc, thóc làng Khoang" (ý nói dân làng Mọc nhiều người làm quan và buôn bán nên nhiêu tiền. Dân làng Khoang trồng lúa giỏi nên có nhiều thóc).

Ở Tam bảo chùa còn hai tấm bia Trùng tu Thanh Xuân tự bi kí dựng năm Tự Đức thứ 31 (1878) và một tấm bia trùng tu nữa dựng năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) do Pho bảng Đỗ Huy Điền, người làng Tây Mỗ viết văn bia.

Chùa có tiền đường và hậu cung, bên phải tiền đường có một am nhỏ thờ công chúa Ngọc Nga, là người đã tạo dựng chùa. Tấm bia đá ghi niên hiệu Chính Hoà thứ 13 (1692) có thể là năm dựng chùa. Tấm bia này cũng cho rằng: "Thường xem đất Phật ở trời Nam xứ nào cũng có. Duy chỉ có chùa Thanh Xuân, thôn Phùng Khoang, xã Nhân Mục là danh lam thắng cảnh lâu đời". Theo các văn bia chùa còn ghi lại chùa được trùng tu vào các năm 1878 và 1887. Đường vào chùa có tam quan, trên là gác chuông treo một quả chuông đồng khá lớn, đúc năm Gia Long thứ 12 (1813). Tường trái có tấm bia hậu Phật niên đại Chính Hoà thứ 13 (1692). Tiền đường của chùa có 5 gian, kiến trúc đơn giản. Gian giữa tiền đường lắp cửa gỗ, chạm khắc hoa lá, 2 gian bên lắp cửa bức bàn. Phần thượng điện ba gian, có hai bộ cửa võng chạm trổ hoa quả, chim chóc, phượng múa... khá đẹp. Nối liền hai nhà đại đình và hậu cung là nha cầu với năm bức nghi môn, dưới là hoành phi ca ngợi cảnh chùa, đạo Phật. Hệ thống hoành phi, câu đối rất lớn với 29 câu đối, 23 hoành phi gỗ, 4 cuốn thư sơn son thiếp vàng.

Một số kiến trúc được xây dựng sau này là nhà Tổ thờ ba vị tổ của chùa, nhà Hậu, nhà Mẫu. Hệ thống tượng tròn trong chùa có 23 pho. Ngoài ra, trong chùa còn có 3 quả chuông đồng niên đại Gia Long thứ 12 (1813), Tự Đức thứ 31 (1878), Tự Đức 34 (1881).

Với giá trị về lịch sử và kiến trúc cổ, chùa Thanh Xuân đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1991.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt