<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Phúc Chu

Nguyễn Phúc Chu (阮福淍) là chúa thứ sáu thời các chúa Nguyễn, con cả của Anh tông Nguyễn Phúc Trăn, mẹ là Tống Thị Đôi. Quê gốc của ông là làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá).

Thuở nhỏ ở trong cung, ông chăm học, chữ tốt, tài kiêm văn võ được phong là Tả bính dinh Phó tướng, Tộ Trường Hầu.

Năm Tân Mùi (1691), chúa Anh tông mất, ông lên kế vị, triều thần tôn là Bình Chương quân quốc trọng sự Thái bảo Tộ quốc Công, hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân, đương thời gọi là Minh vương.

Sau khi hết tang cha, được tôn làm Thái phó, Quốc Công, tôn hiệu là Quốc chúa. Từ đấy trong các sắc dụ về nội trị, ngoại giao đều xưng là Quốc chúa. Thời ông cầm quyền, phía Bắc vẫn giữ vững biên thuỳ với chúa Trịnh, phía Nam ông đưa nhân dân đến các vùng đất mới phương Nam khai khẩn đất hoang sát biên giới Chân Lạp.

Năm Đinh Sửu (1697), ông đặt phủ Bình Thuận gồm các vùng đất Phan Rang, Phan Rí trở về Tây. Đặt phủ Gia Định, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên ở Biên Hoà. Xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, lập xã Minh Hương.

Trong nước việc nội trị, võ bị, giáo dục được phát triển có qui mô. Các tướng dưới  thời ông có Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến…. Ông còn cho xây dựng một loạt chùa miếu, mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am. Bản thân chúa cũng ăn chay ở vường Côn Gia một tháng trời, phát tiền gạo cho người nghèo.

Các năm Nhâm Ngọ, Quý Mùi (1702-1703) tàu biển nước ngoài đến cướp phá các hải đảo và các cửa khẩu đều bị dẹp tan.

Năm Mậu Tý (1708) đời Vĩnh Thịnh thứ tư, Mạc Cửu, người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, trước đó đến khai thác vùng đất Hà Tiên dâng thư lên triều đình xin đem đất này qui thuộc chúa Nguyễn. Ông nhận lời và trao cho Mạc Cửu chức Tổng binh trấn giữ đất Hà Tiên.

Ông là người sùng đạo Nho, mộ đạo Phật, học rộng, hiểu nhiều và cũng là tác giả nhiều bài văn có giá trị. Chính ông đã đề tựa “Bản sư” sách Hải ngoại kỉ sự của Hoà thượng Thích Đại Sán (1633-1704).

Đời ông cầm quyền, Nam Bắc hoà bình được nhiều năm, nhân dân trong nước sống yên ổn hạnh phúc.

Năm Ất Tỵ (1725) niên hiệu Bảo Thái thứ 6, ông mất, ở ngôi 34 năm, thọ 51 tuổi. Ông có tổng cộng 146 người con, trong đó có 38 con trai.

Sau khi ông mất được triều đình dâng thụy hiệu là Đô nguyên suý Tổng quốc chính Tô Minh vương. Về sau, nhà Nguyễn truy tôn ông là Hiến tông, thuỵ là Anh Mô Hùng Lược Thánh Minh Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu minh Hoàng đế, đương thời gọi là Quốc Chúa. Thi hài an táng ở núi Kim Ngọc, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế, vợ chính của ông được truy tôn là Từ Huệ cung Thục kinh phi.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt