<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Nguyễn Phúc Tần

Nguyễn Phúc Tần (阮 福 瀕) là vị chúa thứ 4 đời chúa Nguyễn sáng nghiệp. Ông sinh năm Kỷ Mùi (1619), quê làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá).

Nguyễn Phúc Tần là con thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Lan, mẹ là Đoàn thị. Ông được phong làm Thái phó Dũng lễ Hầu, Dũng Quận Công.

Năm Giáp Thân (1644) ông đánh thắng thuyền nước ngoài vào cướp ở cửa Eo (Yêu Môn, nay là Thuận An), nhờ đó năm Mậu Tý (1648) ông được phong làm Tiết chế chủ quan cùng cha đại phá Trịnh ở sông Gianh.

Năm Kỷ Sửu (1649), Hy tông mất, ông được triều đình tôn ông lên nối nghiệp chúa cha năm 30 tuổi, đương thời gọi là Chúa Hiền hay Hiền vương (anh cả là công tử Nguyễn Phúc Võ mất sớm).

Ông am hiểu binh pháp, chính trị, có ý chí mở mang bờ cõi, chăm lo việc nước, không chuộng vui chơi, yến tiệc, biết trọng nhân tài, lại là người quyết đoán, cứng rắn có khi đến tàn nhẫn. Sử chép ông có một phi tần nguyên là đào hát, rất xinh đẹp, ông rất yêu mến. Một hôm đọc sách thấy chuyện Ngô Phù Sai vì say mê nữ sắc mà mất nước, ông sực tỉnh, bèn ngầm sai người bỏ thuốc độc giết chết người phi tần ấy vì có lần nàng có ý khuynh loát việc triều chính.

Năm Ất Mùi (1655), ông ra đánh chúa Trịnh, chiếm Nghệ An và bình định cả khu vực phía Nam Thanh Hoá, chúa Trịnh khó khăn lắm mới giữ được từ sông Mã trở ra.

Năm Canh Tý (1660), đời Vĩnh Thọ thứ 3, Trịnh Căn phản công, bộ tướng của ông là Nguyễn Hữu TiếnNguyễn Hữu Dật bất hoà, quân Nguyễn thất thế phải bỏ Nghệ An rút về Bố Chính như trước.

Năm Canh Tuất (1670), đời Cảnh Trị thứ 8, Trịnh Tạc đem quân vượt sông Gianh đánh vào nhưng thất bại phải rút về ranh giới cũ.

Năm Tân Hợi (1671), chúa Trịnh lại đem quân vào đánh một lần nữa nhưng thất bại nốt. Từ đó Trịnh - Nguyễn lấy sông Gianh làm ranh giới giữa hai bên gọi là Bắc Hà, Nam Hà (hoặc Đàng Ngoài, Đàng Trong).

Năm Mậu Tuất (1658), vua Chân Lạp nhận làm phiên thần chúa Thái tông.

Năm Kỷ Mùi (1679), tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình vì bất phục nhà Thanh đem nhiều quân sĩ và thuyền bè sang xin làm tôi chúa Nguyễn. Ông cho họ đến khai khẩn, mở mang đất Biên Hoà (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) và các khu vực kế cận.

Năm Đinh Mão (1687), ông bệnh, qua đời, ở ngôi 39 năm, thọ 68 tuổi, được truy tặng miếu hiệu Thái tông, thuỵ hiệu là Hiếu Triết Hoàng đế, an táng ở núi Hải Cát thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Về đời Thái tông, sách Thực lục tiền biên chép: “Bấy giờ trong cõi vô sự, thóc lúa được mùa, chúa càng sửa sang chính trị, không xây đài tạ, không gần thanh sắc, giảm nhẹ giao dịch thuế má, trăm họ vui vẻ, đều khen là đời thái bình”. Chính Hiền vương là người đầu tiên kinh dinh vùng đất Nam Bộ ngày nay.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt