<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Ngày 17 tháng 3
Huế đặt tên đường Trịnh Công Sơn

Sơ lược
 

Chiều 17.3.2011, tại kỳ họp thứ 16, khóa V (nhiệm kỳ 2004 -2011), HĐND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã quyết định thông qua đề án đặt tên đường đợt 6, trong đó thống nhất việc đặt tên Trịnh Công Sơn cho một con đường chạy dọc sông Hương.

Chi tiết
 

Theo đề án, có 68 tuyến đường mới ở thành phố Huế có tên mới, trong đó có đường Trịnh Công Sơn.

Đường Trịnh Công Sơn thuộc phường Phú Cát, thành phố Huế, nằm ven bờ Bắc sông Hương (từ chân cầu Gia Hội) có chiều dài 600m, rộng 11 m nối đường Chi LăngNguyễn Bỉnh Khiêm. Trước khi có tên chính thức, con đường này thường được gọi là đường ven sông Hương.

Ngoài nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một số nhân vật lịch sử có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng, độc lập dân tộc cũng được đặt tên đường trong đợt này (Đặng Thùy Trâm, Trần Quang Long) và một số danh nhân yêu nước (Nguyễn Đình Chi, Thích Tịnh Khiết, Thích nữ Diệu Không và linh mục Đặng Đức Tuấn…).

Thông tin mở rộng
 

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Nhạc sĩ họ Trịnh quê ở làng Minh Hương, tổng Vinh Trị, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Encyclopédie de tous les pays du monde. Nhạc sĩ là tác giả của nhiều ca khúc giành được các giải thưởng lớn ở trong và ngoài nước.

Đề nghị đặt tên đường Trịnh Công Sơn ở 2 đô thị

Một nhóm những người yêu mến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như Giáo sư Trần Văn Khê, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Giáo sư Tương Lai, bà Tôn Nữ Thị Ninh, bà Nguyễn Thế Thanh, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà văn Nguyễn Khắc Phê… đã gửi thư đến lãnh đạo thành phố Hà Nội và thành phồ Hồ Chí Minh đề nghị xem xét đặt tên đường phố Trịnh Công Sơn tại 2 thành phố này.

Thông tin tham khảo
 


Chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông

Ngày 17.3.2009, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc hội thảo với chủ đề “Tranh chấp chủ quyền tại biển Đông: lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế”.

Trong những tài liệu của Trung Quốc, đảo Tây Sa và Nam Sa (Trung Quốc sử dụng để gọi Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) chỉ xuất hiện từ năm 1909. Trong tài liệu Hải ngoại ký sự, Thích Đại Sán (năm 1696) của Trung Quốc cũng khẳng định, chúa Nguyễn sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.

Việt Nam khẳng định chủ quyền tại Biển Đông. Ảnh: namnewsnetwork.

Trong khi đó, tài liệu xưa nhất Việt Nam còn lưu giữ được là Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (năm 1686), ghi rõ, hàng năm chúa Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng, còn tư liệu trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (năm 1776), mô tả kỹ càng về Hoàng Sa, trong đó có khẳng định chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Tài liệu quan trọng nhất là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ 19), lưu những bản tấu, phúc tấu của đình thần và các bộ, những chỉ dụ của nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa như: vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc…

Ngoài các tài liệu của các triều đại Việt Nam, một số quốc gia phương tây còn lưu được những tài liệu cổ xưa là Nhật ký trên tàu Amphitrite (1701) xác nhận Paracels (tức Hoàng Sa) là một quần đảo thuộc về nước An Nam. Trong An Nam đại quốc họa đồ của giám mục Taberd (xuất bản năm 1838), ghi rõ Paraceu (Cát Vàng, là tên chữ Nôm của Hoàng Sa), với tọa độ như hiện nay. The journal of the Asiatic society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels.

Biển Đông (nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương rộng 6,2 triệu km vuông) chiếm vị trí chiến lược, kinh tế quan trọng của khu vực Đông Á, là nơi giao nhau của nhiều tuyến hàng hải quan trọng trên thế giới. Mỗi ngày, có khoảng 400 tàu lớn lưu thông, 25% mậu dịch và 1/2 lượng dầu tiêu thụ của thế giới đều qua biển Đông. 80% dầu thô của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nhập khẩu phải đi qua biển Đông. Không chỉ giữ vị trí chiến lược, Biển Đông còn là nơi có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, phốt phát và nhiều khoáng sản quý hiếm (trữ lượng dầu mỏ ở thềm lục địa là 29,1 tỉ tấn, khí đốt là 5,8 tỉ m3).

Tham khảo

Hướng về biển Đông  – Báo Thanh Niên ngày  19.3.2009.

Hai bản đồ quý khẳng định chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa – Báo Lao Động ngày  19.3.2009.

Giữ chủ quyền bằng chứng cứ lịch sử – Báo Tuổi Trẻ ngày  19.3.2009.

"Không thể giữ chủ quyền chỉ bằng cảm tính"– Báo Vietnamnet ngày  18.3.2009.


Tập đoàn Bảo hiểm AIG bị đòi lại tiền thưởng

Ngày 17.3.2009, Bộ Tài chính Mỹ đã yêu cầu tập đoàn tài chính, bảo hiểm AIG (American International Group) phải trả lại khoản tiền 165 triệu USD đã thưởng cho các nhân viên cấp cao.

Ông Timothy Geithner, Bộ trưởng Tài chính Mỹ khẳng định, tập đoàn bảo hiểm AIG sẽ phải trả tiền lại cho người đóng thuế trước khi nhận gói cứu trợ tiếp theo của chính phủ. Theo ông Geithner, Bộ Tài chính sẽ trừ bớt 165 triệu USD khỏi khoản tiền cứu trợ tiếp theo trị giá 30 tỉ USD mà Chính phủ Mỹ cam kết sẽ bơm cho AIG hôm 2.3.

Tập đoàn AIG đang bị chỉ trích vì khoản tiền thưởng. Ảnh: newsday.

73 nhân vật cấp cao của AIG (trong đó có 11 người không còn làm việc cho tập đoàn) đã được nhận tiền thưởng với số tiền hơn 1 triệu USD/người. AIG dự kiến sẽ thưởng 450 triệu USD cho các cán bộ điều hành. Vì thế, ngày 15.3, AIG đã chi trước 165 triệu USD thưởng cho 400 người. AIG bị chỉ trích hành động phóng tay chi thưởng khi thua lỗ 99,3 tỷ USD trong năm 2008 và phải nhận 170 tỷ USD trợ cấp của chính phủ, hiện 80% cổ phần của AIG thuộc về chính phủ Mỹ.

Số tiền 99,29 tỷ USD mà AIG thua lỗ trong năm 2008 bằng toàn bộ lợi nhuận của hãng kể từ năm 1990 tới nay. Số tiền này tương đương với GDP của Kuwait.

AIG là một trong những tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới có giá trị tài sản khoảng một nghìn tỷ USD và có 116 nghìn nhân viên hoạt động tại hơn 130 quốc gia. AIG là hãng bảo hiểm của hơn 100.000 tổ chức trên toàn cầu và có hơn 30 triệu khách hàng tại Mỹ. Các dịch vụ bảo hiểm của tập đoàn này bao gồm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm rủi ro các khoản nợ, bảo hiểm hàng hải và hàng không...

AIG được thành lập năm 1919 tại Trung Quốc, một doanh nhân người Mỹ tên C.V. Starr đã mở một doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ tại quốc gia châu Á này và sau đó phát triển thành tập đoàn bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ.

Tham khảo

AIG sẽ bị trừ tiền cứu trợ  – Báo Thanh Niên ngày  18.3.2009.

Bộ Tài chính Mỹ đòi lại tiền thưởng của AIG – Báo Người Lao Động ngày  18.3.2009.

AIG phải trả lại 165 triệu USD tiền thưởng – Báo Tuổi Trẻ ngày  19.3.2009.

Tập đoàn AIG thưởng đúng luật không? – Báo Pháp Luật TP.HCM ngày  18.3.2009.


Bác sĩ kê toa ăn hoa hồng mỗi tháng hàng trăm triệu đồng

Sơ lược
 

Ngày 17/03/2010, báo Tiền Phong đăng loạt bài viết phanh phui về việc các bác sĩ kê toa thuốc cho người bệnh để ăn hoa hồng từ hãng dược với số tiền lên đến hàng trăm triệu đồng/tháng.

Chi tiết
 

Tháng 6/2009, bác sỹ B.V.Đ (công tác tại bệnh viện Chợ Rẫy) được chiết khấu tiền hoa hồng là 90 triệu đồng, tháng 7 tăng lên 207 triệu đồng và tháng 8 là 126 triệu đồng.

Tháng 7/2009, bác sĩ T.Th. (công tác tại Trung tâm Medic thành phố Hồ Chí Minh) đã kê 87 lọ P.50 và 74 lọ P.80, để hưởng chiết khấu số tiền 206 triệu đồng.

Trong bảng tổng kết doanh thu bán hàng tháng 7/2009, phòng mạch bác sĩ T. (công tác bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh) đặt 300 lọ thuốc P.50 với giá 1,8 triệu đồng/lọ, và 525 lọ P.80 với giá 3 triệu đồng/lọ. Số tiền được chiết khấu khoảng 528 triệu đồng.

Trong tháng 8/2009, phòng mạch của bác sĩ T. đã sử dụng 612 lọ thuốc P.80 được chiết khấu số tiền 459 triệu đồng.

Tháng 8/2009, phòng mạch của bác sĩ Đ.D.H (công tác tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng 36 hộp P.50 và 54 lọ P. 80, số tiền chiết khấu mà bác sĩ H. nhận được từ công ty S.P. là 226 triệu đồng.

Công ty SP (Schering-Plough) được hãng Dược phẩm Merck Sharp & Dohme (MSD) mua lại và sáp nhập vào MSD từ ngày 1/11/2009. Sản phẩm P.50 và P.80 là thuốc chích Pegintron 50mcg và Pegintron 80mcg chuyên trị viêm gan.

Thông tin mở rộng
 

Cách thức chiết khấu hoa hồng của MSD

Cuối năm 2009, công ty SP được sáp nhập vào MSD tại Việt Nam và ông Tôn Thất Lương Nguyên làm Trưởng đại diện PS. Ông Nguyên chỉ đạo chiết khấu 30% trên đơn hàng thuốc P.50 và P.80 cho một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyên cũng quy định chế độ chiết khấu 30% cho tất cả bác sĩ đối với sản phẩm thuốc điều trị gan P.50 và P.80. Tuy nhiên khi áp dụng thì bác sĩ nào dùng thuốc nhiều sẽ được chiết khấu ở mức cao (20% - 30%), bác sĩ nào dùng ít thì mức chiết khấu thấp (10%).

Hai loại thuốc đặc trị viêm gan siêu vi là P.50 của SP được bán với giá 1,8 triệu/lọ và P.80 với giá 3 triệu/lọ. Bác sĩ kê toa được chiết khấu có thể lấy thuốc hoặc quy đổi ra tiền.

Phản ứng của các ngành chức năng

Ngày 17/3/2010, Thanh tra Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh cho biết, sở yêu cầu xác minh nội dung bài báo phản ánh để làm rõ nguồn gốc các loại thuốc đặc trị được các phòng mạch sử dụng để hưởng chiết khấu.

Ngày 25/3/2010, Cục quản lý Dược đã có công văn đề nghị Thanh tra Bộ Y tế kiểm tra, xác minh vấn đề chiết khấu giá thuốc cho bác sĩ.

Ngày 26/3/2010, Cục thông tin yêu cầu MSD phải cung cấp giá nhập khẩu (giá CIF) một số mặt hàng dược phẩm bán vào các nước khu vực Đông Nam Á nhằm so sánh với giá bán thuốc tại Việt Nam.

Ngày 28/3/2010, Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh có quyết định tạm đình chỉ công tác đối với 2 bác sĩ Đ.D.L.H. và T.B.T để làm tường trình.

Ngày 29/3/2010, Trường đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh cũng quyết định tạm đình chỉ công tác đối với ông N.Đ.T, giảng viên bộ môn hóa kiểm nghiệm của trường.

Chiều 29/3/2010, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cho biết, Văn phòng Chính phủ có văn bản yêu cầu làm rõ việc bác sĩ nhận hoa hồng để kê đơn thuốc mà dư luận đã phản ánh. Theo ông Quang, việc chi - nhận hoa hồng tác động đến kê đơn thuốc có thể được coi là việc đưa - nhận hối lộ, là hành vi phạm pháp, phải được xử lý nghiêm theo pháp luật.

Ngày 29/3/2010, Thanh tra Bộ Y tế chỉ đạo Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh làm rõ việc có hay không 3 bác sĩ công tác tại bệnh viện nhận hoa hồng từ việc kê đơn thuốc P.50, P.80 do Công ty S.P chi trả.

Chiều 30/3, ông Nguyễn Văn Châu, Giám đốc sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh cho biết, thanh tra sở Y tế sẽ kiểm tra, rà soát lại hoạt động khám bệnh, kê toa thuốc tại các phòng mạch. Nếu phát hiện vi phạm, ngành y tế sẽ rút giấy phép hành nghề.

So sánh giá thuốc trong và ngoài bệnh viện

Giá bán Vibovit Bovat (bổ sung Vitamin) tại bệnh viện Nhi Trung ương là 5.800 đồng/gói. Còn tại nhà thuốc Minh Đức (nằm bên ngoài bệnh viện), giá thuốc cùng loại chỉ có 3.500 đồng/gói (bằng 60% giá trong bệnh viện).

Giá thuốc tăng hồng cầu Hemax loại 2.000 đơn vị được BHYT thanh toán tại bệnh viện Thanh Nhàn là 235.200 đồng/hộp, mỗi hộp 1 ống. Mức giá này cũng được áp dụng tại bệnh viện Bạch Mai. Tại bệnh viện K, giá loại thuốc này nhỉnh hơn ở mức 240.000 đồng/hộp.

Trong khi đó, tại Trung tâm dược phẩm 95 Láng Hạ, giá Hemax 2.000 đơn vị được bán ở mức 145.000 đồng/hộp, thấp hơn giá bán trong các bệnh viện nói trên gần một nửa.

Người dân Việt Nam chi trả tiền thuốc theo cấp số nhân

Năm 1998, chi tiêu cho tiền thuốc tính theo đầu người tại Việt Nam ở mức 5,5 USD/năm. Năm 2008, mức chi tiêu cho tiền thuốc của người Việt Nam đã tăng lên mức 16,45 USD/người/năm (cao gấp 3 lần).

Theo báo cáo phân tích ngành Dược công bố tháng 6/2009 của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt thì với mỗi USD thu nhập tăng thêm, người Việt Nam phải trích ra 1 cent (tức 1% của phần thu nhập tăng thêm) cho tiền thuốc.

Thông tin tham khảo
 


Quỹ Crawford tôn vinh 7 nhà nông học Việt Nam

Sơ lược
 

Tối 17.3.2011, Quỹ Crawford Fund (Australia) đã trao tặng huy chương cho 7 nhà nông học của Việt Nam vì đóng góp của họ trong việc giúp phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Chi tiết
 

Bảy người được nhận huy chương gồm: Giáo sư Cù Xuân Dần (nguyên Hiệu trưởng trường đại học Nông nghiệp Hà Nội), Giáo sư Dần đã khuyến khích các giảng viên tham gia các dự án ACIAR (dự án được tài trợ từ chính phủ Austrailia). Hiện có nhiều sinh viên của ông đang nắm giữ vai trò quan trọng trong nghiên cứu và phát triển nông nghiệp nông thôn.

Bà Đào Thị Minh Châu (Trưởng ban Dân tộc và Tôn giáo, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam), bà Châu đã góp phần thúc đẩy các hoạt động hỗ trợ phụ nữ như các dự án phát triển các mô trình trồng trọt, chăn nuôi, giúp khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống và thành lập các câu lạc bộ giúp phụ nữ nông thôn nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe và nuôi dạy con.

Giáo sư Hà Minh Trung (nguyên Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật), người có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu bảo vệ thực vật ở Việt Nam và triển khai các dự án ACIAR và các dự án hợp tác quốc tế.

Giáo sư Lê Đình Khả (nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng) là nhà nghiên cứu có đóng góp lớn cho lĩnh vực chọn giống cây lâm nghiệp.

Giáo sư Lê Viết Ly (nguyên Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi) là người có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu chăn nuôi và phát triển nông thôn.

Tiến sĩ Lê Thanh Lựu (Viện trưởng Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1) là người có công xây dựng chương trình đào tạo cao học với Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội và khuyến khích hợp tác quốc tế.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bộ (Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) là nhà khoa học về thổ nhưỡng nông hóa. Ông có nhiều đóng góp cho việc tăng cường nghiên cứu và đào tạo về khoa học nông nghiệp ở cấp Quốc gia và là thành viên của Ban cố vấn cho ACIAR.

Thông tin mở rộng
 

Quỹ Crawford đã tài trợ cho hơn 600 nhà khoa học Việt Nam

Trong thời gian 15 năm, quỹ Crawford đã tài trợ các khoá đào tạo cho trên 600 nhà khoa học của Việt Nam. Các hoạt động đào tạo bao gồm những khoá học chuyên sâu về quản lý nghiên cứu và các khoá ngắn hạn về thuỷ sản, bệnh cây, các biện pháp nâng cao năng suất cây trồng và lâm nghiệp.

Crawford Fund

Quỹ Crawford Fund được thành lập năm 1987 ở Australia nhằm hỗ trợ đào tạo và binh danh những nhà khoa học nông nghiệp có nhiều đóng góp cho cộng đồng.

Crawford Fund là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Australia, mục tiêu hoạt động của quỹ là nâng cao nhân thức về lợi ích của nghiên cứu đối với các nước đang phát triển. Quỹ thường hỗ trợ cho các đào tạo tập huấn liên quan đến các dự án do Trung tâm Nông nghiệp Quốc tế Australia tài trợ.

Thông tin tham khảo
 


Thành lập tổng công ty thuỷ sản Việt Nam

Sơ lược
 

Ngày 17.3.2011, tại thành phố Hồ Chí Minh, bộ NN& PTNT đã thành lập tổng công ty thuỷ sản Việt Nam.

Chi tiết
 

Tổng công ty thủy sản Việt Nam được hợp nhất từ 3 đơn vị gồm: Tổng công ty thủy sản Việt Nam (cũ), Tổng công ty thủy sản Hạ Long và Tổng công ty hải sản Biển Đông.

Tổng công ty thủy sản Việt Nam có vốn điều lệ 893 tỷ đồng, là công ty lớn nhất Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực thủy sản với 12 công ty con, 34 công ty liên kết và 13 công ty liên doanh.

Công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh là khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ ngành thủy hải sản... trong tương lai, công ty sẽ là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thúc đẩy ngành thủy sản phát triển và bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển.

Thông tin tham khảo
 


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt