<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tùng Thiện Vương

Tiểu sử
 

Tùng Thiện Vương - Ảnh: tư liệu

Danh sĩ Tùng Thiện Vương tên thật là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, tự Trọng Uyên, Thận Minh, hiệu Thương Sơn, Bạch Hào Tử. Vốn tên Ngân (sắc mặt trời mọc) mỹ danh trong hoàng tộc là Miên Thẩm. Ông là con thứ 10 của vua Minh Mạng, nên tục gọi ông Hoàng Mười, sinh ngày 24-10, Kỷ Mão (11-12-1819 dương lịch) tại cung Thanh Hoà – kinh thành Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, mẹ là Thục tần Nguyễn Khắc Bửu, có tiếng hiền đức.

Ông nổi tiếng văn chương, năm lên bảy tuổi, Miên Thẩm cùng với các em vào Dưỡng Chính đường, được thầy Thân Văn Quyền dạy chu đáo. Ông rất chịu khó học tập, nên mới 8 tuổi (1827), nhân theo hầu vua dự lễ Nam Giao, ông làm bài Nam Giao thi, rất được tán thưởng.

Năm 1839, ông được phong Tùng Quốc Công, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế.

Cùng với em là Tuy Lý vương Miên Trinh, Tương An Quận vương lập ra Tùng Vân thi xã, cũng gọi là Mặc Vân thi xã, hội họp các danh sĩ ở kinh đô, trong số ấy có Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát nổi bật hơn hết. Do đấy đương thời vua Tự Đức có câu khen tặng và người đời truyền tụng:

“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,

Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”.

Lại nữa, ba anh em ông - Tùng Thiện vương. Tuy Lý vương và Tương An Quận vương Miên Bửu, được đời xưng tặng là “Tam Đường”.

Ông là học trò và là rể đại thần Trương Đăng Quế. Về sau, ông gả con gái lớn là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, rồi khi xảy ra vụ khởi nghĩa năm 1866, do con rể ông lãnh đạo, ông cũng thận trọng giữ mình, tránh xa việc chính trị, mà chuyên tâm vào văn học nhưng vẫn bị các đại thần đời Tự Đức ngầm khủng bố.

Ngày 30-3-1870 ông mất, thọ 51 tuổi. Sau khi mất, năm 1878, ông được vua Tự Đức gia tặng Tùng Thiện Quận vương. Đến năm 1929, vua Bảo Đại truy phong Tùng Thiện Vương.

Sự nghiệp văn chương
 

Bình sinh sở học và tâm chí ông có thể nói là đã gói ghém trong bốn câu tự thuật:

Cảm nghĩ vân song thảo Thái huyền,

Sinh nhai bút mặc ngộ tiền duyên

Bàng nhân bất giải u nhân ý,

Tiếu sát vương tôn canh thạch điền.

Bản dịch:

Dám sánh ai làm sách Thái huyền,

Sinh nhai bút mực cũng tiền duyên.

Người xem chẳng rõ tình người viết,

Cười ngất cho là khẩn thạch điền.

Đến lúc ông sắp mất, còn lưu lại 4 câu tuyệt bút:

Ban sinh học đạo thái hồ đồ,

Thoát tỉ như kim mãi thức đồ.

Tiến sảng đình ba Thiên Mụ nguyệt,

Thủ hương lâm lãnh hữu nhơn vô.

Bản dịch:

Nửa đời học đạo chữa bao ngằn,

Cởi dép như nay nẻo mới phân,

Thiên Mụ, Túy Vân trời với biển,

Bóng non hương nước có ai chăng?

Các tác phẩm

Ông là một trong các tác giả lớn của Văn học Việt Nam:

  • Thương Sơn thi tập

  • Thương Sơn từ tập

  • Thương Sơn thi thoại

  • Thương Sơn ngoại tập

  • Thương Sơn văn di

  • Nạp bị văn tập

  • Học bị văn tập

  • Học giá chí

  • Nam cầm phổ

  • Độc ngã thư sao

  • Lão sinh thường đàm

  • Tịnh y kí

  • Tình kị tập

  • Thi tấu hợp biên

  • Lịch đại thi tuyển

  • Thức cốc biên

  • Thi kinh diễn nghĩa ca

  • Lịch đại đế vương thống hệ đồ

  • Lịch đại thi nhân tiểu sử

Về thơ quốc âm của ông, nay chỉ còn bài đề sách Nữ phạm diễn nghĩa từ của Tuy Lý vương và khúc liên ngâm Hòa lạc ca (Tùng Thiện - Tuy Lý - Tương An).

Thương Sơn thi tập (56 quyển đóng thành 10 tập) là bộ sách tập hợp hầu hết các thơ của ông. Sau tờ mặt sách có đề năm tháng và tên người soát bản khắc như sau: (Năm Nhâm thân 1872 tháng Giêng, ngày 16, Phụng Hiền Viên Toản đề và soát lại).

Sách bắt đầu bằng mấy bài văn của Tự Đức nói về các tác giả (Ngự chế văn). Thứ đến một số thơ của Tự Đức nói về tác giả (Ngự chế thi). Bài tựa tập thi sao của một sứ thần nhà Thanh (sách thiếu không rõ tên và năm đề tựa). Thứ đến một số bài thơ đề từ của Lao Sùng Quang (Tân giai) và của một số các thi gia Trung Quốc, như Trương Triệu Dung Lê Tân, Văn Thạch, Lê Phương Lượng (Nguyệt Sinh) Lê Duy, Tung Hư, Đình Chung Ứng Nguyên, Huê Lâu, Nhan Sùng Hành, Tiên An Vinh, Lục Kiều, Hà Nhược Dao. Thứ đến Tự tự của tác giả, không đề năm nào. Sau đến bài tựa của Miên Trinh, đề năm Tự Đức thứ 10 (1857). Đến tờ tâu lên vua Tự Đức của con tác giả, xin các thơ văn của Tự Đức làm về Thương Sơn và xin phép khắc in.

1. Cổ tiết từ 2 quyển

2. Nhĩ hinh tập 4 quyển, gồm 214 bài

3. Bắc hành tập 2 quyển

4. Ngộ ngôn tập 14 quyển

5. Hà thượng tập 3 quyển, gồm 149 bài

6. Mô xương tập 7 quyển, gồm 322 bài

7. Bạch bi tập 7 quyển, gồm 476 bài

8. Mãi điền tập 7 quyển, đầu mỗi tập có ghi niên hiệu nói lên những thơ ấy làm vào thời gian nào


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt