<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Ngày 18 tháng 1
Đề án Phát triển thông tin nông thôn giai đoạn 2011-2020

Sơ lược
 

Ngày 18.1.2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Phát triển thông tin, truyền thông nông thôn giai đoạn 2011-2020 với tổng kinh phí trên 24.000 tỷ đồng.

Chi tiết
 

Theo đề án, đến năm 2020, 100% số xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn sẽ có điểm cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông công cộng và được kết nối bằng đường truyền dẫn băng rộng đa dịch vụ.

Bên cạnh đó, 100% lãnh thổ, lãnh hải và các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam sẽ được phủ sóng phát thanh, truyền hình; mật độ điện thoại khu vực nông thôn sẽ đạt từ 40-50% mật độ điện thoại bình quân toàn quốc, mật độ thuê bao Internet khu vực này cũng đạt từ 30-40% mật độ bình quân toàn quốc.

Thông tin mở rộng
 

Mục tiêu đề án là tất cả người dân đều được tiếp cận thông tin

Đề án cũng đặt ra mục tiêu 100% số xã đồng bằng, trung du và hầu hết các xã miền núi có báo Nhân dân và báo của địa phương trong ngày.

Các cơ quan nhà nước từ cấp quận, huyện, sở, ban, ngành hoặc tương đương trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, cung cấp các dịch vụ công trực tuyến tới người dân và doanh nghiệp khu vực nông thôn.

Các cơ quan Đảng, chính quyền từ trung ương tới cấp xã có số máy điện thoại, hộp thư điện tử công khai để tiếp nhận và trả lời ý kiến phản ánh của người dân

Mức độ phục vụ bưu chính bình quân đạt dưới 7.000 người dân trên một điểm phục vụ bưu chính với bán kính phục vụ dưới 3 km; bảo đảm người dân khu vực nông thôn được sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông phổ cập…

Thời gian thực hiện đề án từ 20011 đến 2020

Tổng kinh phí thực hiện đề án khoảng 24.664 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước là 150 tỷ đồng, doanh nghiệp 7.914 tỷ đồng, quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam 15.150 tỷ đồng, nguồn vốn khác 1.450 tỷ đồng.

Thời gian thực hiện đề án từ năm 2011 đến 2020.

Thông tin tham khảo
 


Chiến thắng sông Như Nguyệt

Sơ lược
 

Trận Như Nguyệt là trận quyết chiến diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu, tỉnh Bắc Ninh) của quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy.

Chi tiết
 

Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã chủ động đem 100.000 quân sang đất Tống để đánh phá các căn cứ quân sự của chúng ở Châu Ung, Châu Khâm, Châu Liêm rồi rút quân về lập phòng tuyến chống quân Tống bên bờ Nam sông Như Nguyệt.

Sở dĩ, Lý Thường Kiệt chọn sông Như Nguyệt để xây dựng phòng tuyến vì mọi ngả đường tiến quân từ phương Bắc xuống đều phải qua con sông này. Phòng tuyến sông Như Nguyệt chạy dài suốt từ chân núi Tam Đảo đến cửa Lục Đầu Giang, trọng điểm là những đoạn sông ngắn và nơi có bến đò ngang.

Đầu năm 1077, hơn 300.000 quân Tống do 2 tướng Quách Quỳ và Triệu Tiết ồ ạt kéo sang xâm lược Đại Việt theo 2 ngả đường thủy và bộ.

Lý Thường Kiệt bố trí lực lượng giữ thật vững chiến tuyến Như Nguyệt đồng thời cho quân phục kích, đánh tan đạo thủy quân của địch ở vùng sông Bạch Đằng.

Sơ đồ trận Như Nguyệt năm 1077. Ảnh: bachkhoatoanthu.

Bị các lực lượng thổ binh quân Đại Việt chặn đánh, đến ngày 18/1/1077, quân Tống mới đến được bờ Bắc sông Như Nguyệt và chia thành 2 cụm, cụm đóng ở Thị Cầu (khoảng 50.000 quân) do Quách Quỳ chỉ huy và cụm Như Nguyệt (khoảng 30.000 quân) do Triệu Tiết chỉ huy chờ quân tiếp viện.

Trong khi đó ở vùng biển Đông Bắc, đội quân thuỷ của Đại Việt do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã đánh bại lực lượng thuỷ binh của quân Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy, loại lực lượng này ra ngoài vùng chiến.

Đầu tháng 2/1077, Quách Quỳ cho bắc cầu phao để lực lượng kỵ binh vượt sông, đột phá qua dải phòng ngự tiến về thành Thǎng Long, nhưng bị quân của Lý Thường Kiệt chặn lại khi còn cách Thǎng Long khoảng 8 km. Đồng thời quân Đại Việt đưa kỵ binh đột kích cạnh sườn tiêu diệt phần lớn quân Tống, số còn lại tháo chạy về phía Bắc, đợt tiến công của quân Tống bị đẩy lùi.

Sau đó, Quách Quỳ định mở đợt tấn công thứ 2, nhưng do thiếu phương tiện vượt sông nên quân Tống buộc phải chuyển sang thế phòng ngự chờ cơ hội.

Vào tháng 3/1077, 400 chiến thuyền của quân Đại Việt bất ngờ đánh vào cụm quân Quách Quỳ từ hướng Đông và vượt sông đánh thẳng vào cụm quân Triệu Tiết. Quân Tống bị chia cắt thành từng mảng và bị tiêu diệt, chúng phải phá vòng vây chạy về phía Bắc nhưng bị đạo quân của Thân Cảnh Phúc chặn đánh ở Chi Lǎng, quân Tống buộc phải rút hết quân về nước.

Thông tin mở rộng
 

Phòng tuyến sông Như Nguyệt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược (1075 - 1077) của quân dân Đại Việt được xây dựng với địa thế dựa vào núi, sông, đồng trũng, ruộng lầy...

Đoạn sông Như Nguyệt, nơi xây dựng phòng tuyến có vị trí chiến lược quan trọng với nhiều bến đò ngang như Dũng Liệt, Phù Cầm, Phù Yên, Lương Cầm, Đẩu Hàn, Thị Cầu… chiến luỹ được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày mấy tầng. Dưới bãi sông có những hố chông ngầm, trên bờ, quân binh Đại Việt đóng doanh trại ở các trại Như Nguyệt, Thị Cầu và Phấn Động. Mỗi trại binh có thêm thuỷ quân phối hợp, có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long. Phòng tuyến chính của quân Đại Việt dựa vào bờ Nam sông Như Nguyệt, có rào giậu nhiều tầng, chạy dài khoảng 80 km từ chân núi Tam Đảo đến sông Lục Đầu.

Đại bản doanh của quân đội nhà Lý (gồm Bộ chỉ huy, lực lượng quân chính quy và hậu cần) được thiết lập ở xã Yên Phụ (Yên Phong), bởi dãy núi này nằm án ngữ trên con đường giao thông huyết mạch Như Nguyệt-Thăng Long, đồng thời chỉ cách bến đò Như Nguyệt khoảng 6 km, rất thuận lợi cho việc chỉ huy chiến trận, cũng như bổ quân và vận chuyển lương thực, thực phẩm đến các trận địa quan trọng thuộc phòng tuyến.

Tháng 3/1077, sau khi thất bại trước phòng tuyến sông Như Nguyệt của quân dân Đại Việt, quân Tống phải rút lui về nước. Khi về đến Trung Quốc (tháng 4/1077), số binh lính chỉ còn lại 23.000 người và 3.174 ngựa, tổng chi phí trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt  khoảng 5.190.000 lạng vàng.

Thông tin tham khảo
 

Trận Như Nguyệt (18/1-2/1077) – trang web Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.

Phòng tuyến sông Như Nguyệt – Báo Bắc Ninh ngày 23.6.2009.

Những chiến thắng nổi tiếng trong lịch sử dân tộc ta- Báo Quê hương.

Phòng tuyến sông Cầu bảo vệ Thăng Long – trang web Thăng Long Hà Nội.


Chuyến du lịch bằng trực thăng đầu tiên tại Đà Nẵng

Sơ lược
 

Sáng 18.1.2011, chiếc máy bay MI 172 chở 24 hành khách của tour du lịch bằng trực thăng đầu tiên tại miền Trung đã cất cánh tại sân bay quốc tế Đà Nẵng.

Chi tiết
 

Sau khi bay qua nhiều địa danh, chuyến bay đã hạ cánh xuống Cù Lao Chàm và trở về Đà Nẵng vào 14 giờ cùng ngày.

Đây là tour du lịch bằng trực thăng do Tổng công ty trực thăng Việt Nam phối hợp Công ty Cổ phần du lịch Việt Nam (Vitours) thực hiện.

Hiện công ty có các tour bằng trực thăng như: Đà Nẵng City tour bay (1/2 ngày); Đà Nẵng-Sơn Trà-Cù Lao Chàm-Mỹ Sơn (1 ngày); Đà Nẵng-Cù Lao Chàm (1 ngày); Đà Nẵng-Lý Sơn (1 ngày); Đà Nẵng-Cồn Cỏ (1 ngày) và bay phục vụ trình diễn, quay phim, chụp ảnh...

Loại hình du lịch trực thăng được đưa vào khai thác đáp ứng như cầu dịch vụ chuyên nghiệp với đẳng cấp cao của du khách từ Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… đến Đà Nẵng.

Thông tin mở rộng
 

Du khách trong chuyến bay đầu tiên là khách mời

Những du khách đầu tiên của tour du lịch này là các khách mời đi khảo sát du lịch trực thăng. Với tour Đà Nẵng – Cù Lao Chàm trong 1 ngày, du khách sẽ được ngắm thành phố Đà Nẵng từ trên cao cùng những thắng cảnh nổi tiếng như: biển Mỹ Khê, núi Ngũ Hành Sơn, cầu sông Hàn, Thuận Phước…trong thời gian 30 phút trước khi hạ cánh xuống Cù Lao Chàm.

Các chuyến bay thương mại sẽ có mức giá 340 -375 USD/khách

Các loại trực thăng phục vụ tour bao gồm EC 155 B1 loại 12 chỗ (trực thăng tầm trung của Liên đoàn trực thăng châu Âu), MI 17 và MI 172 với 24 chỗ có giá thuê từ 3.800 - 7.500 USD/giờ tùy loại máy bay.

Trực thăng MI 172 do hãng Kazan của Nga sản xuất có sức chứa 3 phi hành gia và 22 hành khách. Đây là loại trực thăng vận tải đa dụng, có thể bay mọi địa hình và đã được sử dụng trong các tour trực thăng ở Côn Đảo.

Các chuyến bay thương mại của sản phẩm du lịch trực thăng sẽ có mức giá từ 340 -375 USD/khách.

Thông tin tham khảo
 


©2023 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt