<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tuy Lý Vương

Tiểu sử
 

Tuy Lý Vương - Ảnh: Tư liệu

Tuy Lý Vương là danh sĩ lớn đời Nguyễn, tên huý là Nguyễn Phúc Thư (阮福書), tên theo đế hệ là Nguyễn Phúc Miên Trinh (阮福绵貞), tự Khôn Chương, Quý Trọng, hiệu Tĩnh Phố, Vĩ Dạ. Con thứ 11 của vua Minh Mạng, em Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, sinh ngày 19-12 năm Kỷ Mão (1819)  nhằm ngày 3-2-1820 dương lịch năm Canh Thìn, tại kinh thành Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Ông vốn thông minh, hiếu học, tính tình đôn hậu được sự dạy dỗ của mẹ và thầy nên ông sớm nổi tiếng văn chương, uyên bác, tinh thông y dược. Về văn chương, ông ngang tài với anh là Tùng Thiện vương, thành viên Tùng Vân thi xã, cũng gọi là Mặc Vân thi xã của Tùng Thiện vương hội họp với các danh sĩ ở kinh đô.

Năm Kỷ Hợi (1839), ông được phong là Tuy Quốc công, cho lập phủ riêng gọi là Tĩnh Phố, ở bên cạnh Ký Thưởng viên của người anh khác mẹ là Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.

Năm Tân Hợi niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851), nhà vua bắt đầu lập nhà Tôn học, cử ông giữ chức Đổng sự.

Năm Giáp Dần (1854), ông được phong Tuy Lý công. Năm 1865, vua chuẩn cho ông kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ Hữu Tôn Nhơn, nhưng vì mẹ mất, ông xin từ để cư tang, đến năm sau mới tựu chức, rồi thăng Tôn Nhơn Phủ Tả Tôn Nhơn (1871), Tuy Lý Quận vương (1878), Tôn Nhơn Phủ Hữu Tôn (1882).

Năm Quý Mùi (1883), Tự Đức lâm bệnh nặng, Miên Trinh có vào Y viện hầu thuốc, nhưng không công hiệu, vua mất. Cũng trong năm này, khi quân Pháp tấn công Huế, con trai ông âm mưu chống lại phái chủ chiến của Tôn Thất Thuyết nên bị trấn áp. Ông trốn xuống một tàu chiến Pháp ở Thuận An, nhờ Khâm sứ De Champeaux che chở, nhưng bị Tôn Thất Thuyết đòi lại và an trí ở Quảng Ngãi. Đến khi Đồng Khánh lên ngôi mới được thả về, sang đời Thành Thái ông làm Phụ chánh.

Năm Đinh Dậu ngày 24-10 Âm lịch (18-11-1897) ông mất, thọ 77 tuổi.

Sự nghiệp văn chương
 

Đương thời trong văn giới ca tụng ông và Tùng Thiện vương là “Nhị Tô” (so sánh như Tô Triệt và Tô Thức tức cha con Tô Đông Pha đời Tống).

  • Vĩ Dạ hợp tập

  • Vĩ Dạ văn tập

  • Vĩ Dạ thi tập

  • Nam Cầm khúc (Nguyễn Phúc Hồng Sâm dịch ra quốc âm)

  • Trung Quốc công thi tập

Thơ văn ông đều bằng chữ Hán, chỉ có một ít bằng chữ Nôm, như bài:

Cũng phải xơi ngơi cũng phải chơi.

Làm người nào phải Phật lo đời.

Ngày dài dễ đặng ba muôn sáu,

Tháng chẵn lần qua một chục hai.

Việc phủ vua quan giờ có phép,

Tiệc thơ hầu hạ dám nhường ai.

Mua vui nghìn lượng xin đừng tiếc,

Đã thấy co ro cất củ khoai.

Vĩ Dạ hợp tập gồm chung cả thi tập và văn tập của Tuy Lý vương Nguyễn Miên Trinh. (Văn tập gồm 5 quyển, thi tập 6 quyển, tự, truyện... 1 quyển). Mặt sách có đề rõ sách in năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Bài tựa của Nguyễn Đức Đạt đề năm Tự Đức thứ 28 (1875); thứ đến bài tựa của Vương Tiên Khiêm đề năm Tân Tỵ (1881). Rồi đến bản truyện tác giả của Quốc sử quán và bản tuyển của nhà riêng. Tiểu tượng tác giả, gồm 3 kiểu khác nhau, có bài tán của con là Hồng Nhung.

Đây là toàn tập thơ văn của nhà thơ đời Tự Đức. Tuy Lý vương cùng nổi tiếng với Tùng Thiện vương mà ta thường nói Tùng Tuy, Vĩ Dạ là nơi mà Tuy Lý vương có nhà ở.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt