<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
xã hội Kinh Thành Huế
Dự án tu bổ kinh thành Huế

Sơ lược
 

UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế vừa phê duyệt dự án bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế với tổng mức đầu tư 1.282 tỷ đồng.

Chi tiết
 

Dự án bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế  do UBND thành phố Huế và Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế làm chủ đầu tư. Để thực hiện dự án nói trên, có 876 hộ dân phải giải tỏa, tái định cư, dự kiến đến cuối năm 2011 sẽ thực hiện dự án và hoàn thành vào năm 2015.

Theo số liệu thống kê, trong tổng số 147 công trình ở khu vực Đại nội, nơi tập trung các cung điện nguy nga nhất, có hơn một nửa công trình đã bị đã xuống cấp. Hầu hết các kiến trúc gỗ còn lại đều bị mối mọt hủy hoại; hàng chục ngàn m2 sân vườn bị hoang phế; phần lớn hệ thống thoát nước, đường, cầu bị hư hỏng.

Thông tin mở rộng
 

Dự án bảo tồn quy mô lớn nhất tại di tích Huế

Kinh thành Huế được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 bằng gạch, cao 6,6m, dày 21m và dài khoảng 10 km chạy zic zac tạo thành các pháo đài theo kiểu kiến trúc quân sự Vauban.

Kinh thành huế là công trình quan trọng nhất trong hệ thống di sản văn hóa thế giới tại Huế. Dự án bảo tồn tu bổ kinh thành Huế là dự án có quy mô lớn nhất từ trước đến nay tại di tích Huế.

Kinh thành Huế

Kinh thành Huế là nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong  thời gian 140 năm (từ 1805 -1945). Năm 1803, vua Gia Long tiến hành khảo sát  và đến năm 1805 bắt đầu khởi công xây dựng, công trình được hoàn thành vào năm 1832 (dưới triều vua Minh Mạng).

Kinh thành Huế nằm bên bờ Bắc sông Hương, mặt quay về hướng Nam, diện tích mặt bằng 520 ha. Vòng thành có chu vi gần 10 km, cao 6,6m, dày 21m với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo đại bác, kho đạn.

Kinh thành Huế là di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Thông tin tham khảo
 


Thành phố Huế - Tỉnh Thừa Thiên - Huế

Vị trí - Lịch sử
 

Cửa Ngọ Môn trong kinh thành - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Kinh Thành là dãy thành lũy bao bọc bên ngoài kinh đô Huế. Chức năng chính của toà thành này là phòng vệ cho tất cả các công trình kiến trúc cung đình và các sinh hoạt triều đình cũng như gia đình nhà vua ở bên trong phạm vi của nó.

Việc quy hoạch Kinh Thành diễn ra trong hai năm 1803 - 1805, dưới triều vua Gia Long. So với Đô thành Phú Xuân trước đó, mặt bằng của Kinh Thành được mở rộng hơn rất nhiều. Nó nằm chồng lên hai đoạn khá dài của hai con sông Kim Long và Bạch Yến, chi lưu bên trái của sông Hương. Mặt bằng này nằm trên địa phận của 8 làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo và Thế Lại. Triều đình đã bồi thường đất cho nhân dân 8 làng này để họ chuyển đi nơi khác, nhường đất xây dựng Kinh Thành. Quá trình xây dựng Kinh Thành kéo dài trong 27 năm, từ năm 1805 đến năm 1832, dưới hai đời vua Gia LongMinh Mạng.

Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây bằng gạch. Có thể nói, kinh thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lí phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học cùng những đặc điểm ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây theo kiểu Vauban.

Kiến trúc
 

Kinh Thành có dạng mặt bằng gần như là một hình vuông, chỉ riêng mặt trước hơi khum ra như hình cánh cung vì phải chạy theo chiều cong của sông Hương phía trước. Chung quanh Kinh Thành có 10 cửa chính, 1 cửa phụ thông với Trấn Bình Đài, và 2 thuỷ quan ở hai đầu Ngự Hà là Đông Thành Thuỷ Quan và Tây Thành Thuỷ Quan. Mười cửa chính của Kinh Thành là: Chánh Đông môn tục gọi là cửa Đông Ba, Chánh Tây môn, Chánh Nam môn còn gọi là cửa Nhà Đồ, Chánh Bắc môn còn gọi là cửa Hậu, Tây Bắc môn còn là cửa An Hoà, Đông Bắc môn còn gọi là cửa Kẻ Trài, Đông Nam môn còn gọi là cửa Thượng Tứ, Thể Nhân môn còn gọi là cửa Ngăn, Quảng Đức môn và Tây Nam môn còn gọi là cửa Hữu.

Bên ngoài Kinh Thành có hai tuyến đường thuỷ là hào thành và Hộ Hà Thành và một tuyến chiến lũy nằm giữa hai tuyến đường thuỷ này. Có nhiều chiếc cầu bắc qua hai tuyến đường thuỷ để giữ chức năng giao thông như: cầu Thanh Long, cầu Bạch Hổ, cầu Gia Hội, cầu Đông Ba.

Các nhà hoạch định Kinh Thành Huế đã vận dụng cả kiến trúc phương Đông lẫn phương Tây vào việc quy hoạch và xây dựng Kinh Thành. Họ đã tuân thủ các kiến thức về phong thuỷ, địa lý của phương Đông khi cho Kinh Thành quay mặ̣t về hướng Nam, lấy sông Hương làm minh đường, núi Ngự Bình làm tiền án, chọn cồn Hến và cồn Dã Viên làm Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ chầu phục trước mặt Kinh Thành. Bên kia sông, không xa lắm là ngọn Bằng Sơn được đổi tên thành Ngự Bình, che chắn mặt trước Kinh Thành như một bức bình phong thiên nhiên, giữ chức năng tiền án. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ“ ( vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ).

Không gây ấn tượng trấn áp tinh thần, cũng không có vẻ hoang sơ dã thảo, kinh Thành Huế khiến cho người ta cảm nhận được đúng mức không khí tôn nghiêm nhưng không mất đi cảm giác êm đềm thư thái giữa thiên nhiên gần gũi. Bên cạnh đó, phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh Thành Huế thực sự như một pháo đài vĩ đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà Le Rey, một thuyền trưởng người Pháp đã từng đến Huế năm 1819 phải thốt lên: “Kinh Thành Huế thực sự là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông Dương, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dựng”.

Trải qua hàng trăm năm nay, mặc dù chịu sự tàn phá của thời gian và bom đạn, Kinh Thành Huế vẫn tồn tại hầu như đầy đủ diện mạo của nó. Với giá trị cao về nhiều phương diện, toà thành này xứng đáng được xem là một trong những công trình kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể di tích Huế.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt