<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Miếu Công Thần
phường 5 - thành phố Vĩnh Long - tỉnh Vĩnh Long

Tổng quan
 

Ngôi miếu nằm trên đường 14 tháng 9, phường 5, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Miếu là nơi thờ tự các vị Nhiên thần và Nhân thần có công với quê hương, đất nước. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia ngày 31-08-1998, theo Quyết định số 1811 QĐ của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch).

Lich sử
 

Miếu được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ XVII, ban đầu có tên là miếu Hội Đồng. Theo Đại Nam nhất thống chí, miếu Hội Đồng Vĩnh Long xây dựng năm Minh Mạng thứ 17 (1837) tại thôn Thanh Mỹ Đông, huyện Vĩnh Bình. Dân gian thường gọi ngôi miếu này là đình Khao do tương truyền các quan cựu trào thường chọn nơi này để yến ẩm, khao thưởng. Các vị thần được thờ tại miếu Hội Đồng đều được triều đình phong sắc. Hàng năm các quan đầu tỉnh thay mặt triều đình đến tế, theo điển lễ.

Sau khi chiếm thành Vĩnh Long, quân Pháp đã phá hủy miếu để đem gỗ về xây dựng dinh tham biện. Nhân dân đã gom tự khí và đặc biệt là 85 đạo sắc đem về gửi tại đình làng Thiềng Đức. Năm 1918, nhờ sự vận động của bà Trương Thị Loan, chính quyền Pháp cho phép khôi phục lại miếu Hội Đồng Vĩnh Long cách vị trí ngôi miếu cũ khoảng 1 km, gần thị xã hơn. Để chính quyền Pháp chấp nhận, giới thân hào nhân sĩ thời bấy giờ đã thờ thêm danh sách những thanh niên ở Vĩnh Long bị bắt đi lính tham gia thế chiến lần thứ 1. Đồng thời bà Trương Thị Loan cũng đã gởi hương hoả thờ cha chồng bà là ông Nguyễn Văn Phong, người Vĩnh Long, nguyên là Tổng đốc Thuận Khánh thời Thành Thái. Từ đây, miếu có tên chính thức là Công Thần Linh Miếu - 功臣霛廟.

Kiến trúc
 

Ngôi miếu gồm có bốn gian: chính tấm, võ qui, võ ca và nhà khách. Võ qui, võ ca và chính tấm đều làm theo kiểu “tứ trụ”. Bộ giàn trò bằng danh mộc, kiên cố nhưng đơn giản. Ngôi miếu có tường gạch bao quanh, nền lót gạch, mái lợp ngói âm dương. Bên trong miếu công thần có rất nhiều hoành phi, câu đối từ các địa phương tiến cúng, có các nhân vật ở miền Trung, miền Bắc. Riêng về cách bày trí thờ phượng không khác một ngôi đình làng.

Trong miếu có đôi câu đối nổi tiếng:

扶黎阮八十五元勛, 壯氣象州天以北

平詹腊百千餘戰陣,名票鱗閣海而南

Phiên âm:

Phù Lê Nguyễn bát thập ngũ nguyên huân, tráng khí tượng châu thiên dĩ Bắc.

Bình Chiêm Lạp bách thiên dư chiến trận, danh phiêu lân các hải nhi Nam

Vietgle dịch:

Phò Lê Nguyễn tám mươi lăm vị công thần, tráng khí oai hùng vang trời Bắc

Bình Chiêm Lạp hơn trăm ngàn chiến trận, danh thơm lừng lẫy khắp biển Nam

Sắc phong
 

Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, miếu Công Thần ở Vĩnh Long là nơi duy nhất trong cả nước còn lưu giữ được 85 đạo sắc của nhà Nguyễn cấp thời Thiệu Trị và Tự Đức. Trong đó có sắc của Thiệu Trị, có sắc của Tự Đức thay lời Thiệu Trị (những sắc này lấy danh nghĩa của Thiệu Trị nhưng ngày tháng lại cho thấy vào thời Tự Đức), cũng có sắc của Tự Đức. Toàn bộ đều phó bản thay thế bản chính đã mất vào năm 1843. 85 đạo sắc ấy phong cho 34 thần hiệu. Có thần hiệu phong cho một vị thần nhưng cũng có thần hiệu phong cho hai hoặc ba vị thần:

- 4 đạo sắc gia phong cho 4 Nhiên Thần Thượng Đẳng.

- 4 đạo sắc gia phong cho 4 Nhiên Thần Trung Đẳng.

- 5 đạo sắc gia phong cho 5 Nhiên Thần Hạ Đẳng.

- 5 đạo sắc gia phong cho 5 Nhân Thần Thượng Đẳng

- 11 đạo sắc gia phong cho 11 Nhân Thần Trung Đẳng.

- 5 đạo sắc gia phong cho 5 Nhân Thần Hạ Đẳng.

Công thần
 

Các Nhiên thần gồm những biểu tượng văn hoá, những biểu tượng khí thiêng sông núi; được chia ba thành bậc: Thượng, Trung và Hạ; các biểu tượng này đủ màu sắc: Việt, Hoa, Chăm. Nhân thần là những danh nhân sinh tiền có công với dân tộc, có công với địa phương. Xa xưa nhất thì phải kể đến Phi Vận Tướng quân Nguyễn Phục, gốc là thầy dạy học và cũng là một công thần triều vua Lê Thánh Tông; ông được xem là một vị thần phù hộ người đi biển đã đưa đám lưu dân vào Nam lập nghiệp, được phong Trung Đẳng Thần. Kế đến là Đô đốc Bùi Tá Hán (Nghệ An) người khai phá vùng đất Thừa Thiên, đời Lê Anh Tông; tham tướng Lê Văn Chính, người khai phá vùng Phú Yên, đời chúa Nguyễn Hoàng,.... đều được phong Thượng Đẳng Thần. Những danh nhân có công lớn với Nam bộ như Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, Chính Thống Nguyễn Cửu Vân, Phụ Quốc Đô đốc Trần Thắng Tài .... cũng được phong Thượng Đẳng Thần. Các danh nhân có công với vùng đất Vĩnh Long như Điều Khiển Nguyễn Cư Trinh, Chưởng cơ Nguyễn Khoa Kiên, Hữu Phủ Tống Phước Hiệp, Thống Suất Trương Phước Du cũng được phong Trung Đẳng hay Hạ Đẳng Thần.

Lễ hội
 

Hằng năm, miếu Công Thần Vĩnh Long có các lễ hội chính như sau:

- Lễ Thượng Nguyên và lễ Bầu Ông (rằm và 16 tháng giêng).

- Lễ Xuân tế (14 đến 17 tháng hai)

- Lễ Hạ Điền (rằm và 16 tháng năm).

- Lễ Trung Nguyên (rằm và 16 tháng bảy)

- Lễ Thu Tế và Trung Thu (rằm và 16 tháng tám)

- Lễ Thượng Điền và Hạ Nguyên (rằm và 16 tháng mười)

- Lễ Chạp Miếu (rằm và 16 tháng chạp)

- Lễ Tất Niên và Dựng Niêu (25 tháng chạp).

Lễ Hạ Điền và Lễ Thượng Điền là nghi lễ của một đình làng. Ngày ấy dân làng tế Thần Nông, vũ sư, phong bá và các vị thần linh khác để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bộI thu.

Lễ Bầu ông là nghi lễ thời khai hoang phá rừng còn lưu truyền. Theo lời người xưa kể lại, thời đó dân làng không ai dám làm chức Trùm Cả, tức là chức vụ đứng đầu làng, chức vụ này phải dành cho cọp. Nếu ai bạo gan, trái điều kiêng kỵ thì cọp sẽ về móc họng giết chết. Do vậy hàng năm Hương chức phải làm lễ tế “ông Trùm Cả” và dâng cho “Ông” một tờ cử hương chức. Tối hôm đó ông sẽ về nhận lễ vật và trả tờ cử nhiệm kỳ qua.

Lễ Xuân tế là ngày lễ quan trọng nhất tại miếu Công Thần. Lễ này kéo dài 4 ngày: 14 đến 17 tháng hai. Lễ Xuân tế là dịp bà con đến lễ bái các vị thần linh cầu quốc thái dân an, là dịp bà con lễ bái các vị tiền nhân với ý niệm uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là dịp cầu an làng xóm nên ngoài các nghi lễ truyền thống còn có các nghi lễ dân gian mang màu sắc phật giáo, lão giáo. Lễ Xuân Tế là dịp bà con họp mặt vui chơi đàm đạo, xem hát bội.


Xuân Cảnh - Sông Cầu - Phú Yên

Vị trí

Miếu ở xã Xuân Cảnh, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Miếu nằm trên đảo Hòn Nầng, giữa đầm Cù Mông. Hòn Nầng có chu vi khoảng khoảng 2km, có núi cao đất bằng, chung quanh bao bọc bởi mặt nước trong xanh của đầm Cù Mông. Đây là ngôi miếu lớn nhất, tế lễ uy nghiêm nhất trong vùng.

Lịch sử

Tương truyền miếu do vua Gia Long ra sắc lập vào năm 1806. Sở dĩ miếu có tên là Công Thần vì ngày xưa vùng này là nơi trú quân của Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Buổi sáng, xuất quân ra đánh thành Quy Nhơn, buổi chiều Nguyễn Ánh lui quân về đồn trú ở đây. Số binh lính tử trận cũng được đưa về đây chôn cất. Sau khi thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua vào năm 1802, lấy niên hiệu là Gia Long. Đến năm 1806 thì vua ra sắc lập miếu.

Kiến trúc

Kiến trúc miếu có nhà thờ chính, nhà thờ tả, nhà thờ hữu, sân tế lễ, nhà các quan đến tạm ở để làm lễ hàng năm, nhà cho cai miếu và đội phu dịch miếu. Đền thờ được xây cất nguy nga tráng lệ, mái cong, có long, lân, quy, phượng. Trên nóc có lưỡng long triều nguyệt. Quy định của Gia Long mỗi năm 2 lần quốc tế xuân kỳ-thu tế "xuân thu nhị kỳ". Bộ lễ của triều đình Nhà Nguyễn và quan chức của Tĩnh thân làm chủ tế. Tế lễ là phải đủ Tam Sinh. "Vật tế sống 1 bò, 1 dê, 1 lợn" ngoài ra vật tế chín nhiều heo quay, gà, vịt xã sở tại người lo các vật phẩm hiến tế, phục dịch đưa rước các quan trên các quan Tỉnh về bằng ngựa bỏ ngựa ở đất liền phải đưa ghe bảo đảm an toàn ra đảo miếu.


©2023 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt