<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Về Lam Kinh

Lam Kinh từ lâu đã đi vào tiềm thức người dân Việt như một điểm hẹn về với nguồn cội; nơi khởi nguồn của những chiến tích hào hùng, cái nôi của khởi nghĩa Lam Sơn và là nơi phát tích của dòng họ Đế vương đã có công bình Ngô giữ nước. Cách thành phố Thanh Hóa hơn 50km về phía tây, khu di tích lịch sử - văn hóa Lam Kinh nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân đã và đang thu hút đông đảo du khách đến tham quan.

Từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi theo quốc lộ 47 rẽ qua cầu Mục Sơn để đến Lam Kinh. Thiên nhiên Lam Kinh đón chúng tôi bằng màu xanh nguyên sinh của những rừng cây cổ thụ. Ẩn mình trong không gian yên tĩnh, thiên nhiên nơi đây như những người lính đang giữ giấc ngàn thu cho các bậc đế vương và hoàng hậu triều Lê sơ.

Ngược dòng lịch sử
 

Sau 10 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) giành thắng lợi và lên ngôi hoàng đế đóng đô ở Đông Kinh, lấy niên hiệu là Thuận Thiên thứ nhất, vua Lê Thái Tổ tức Lê Lợi đồng thời cho xây dựng ở quê hương Lam Sơn một kinh thành lớn thứ hai gọi là Lam kinh (còn gọi là Tây Kinh). Thành điện Lam kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu (gọi là du sơn) mặt Nam nhìn ra sông Chu - có núi Chúa làm tiền án, bên tả là rừng Phú Lâm, bên hữu là núi Hương và núi Hàm Rồng chắn phía Tây. Khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam - Bắc trên một khoảng đồi gò có hình chữ vương. Bốn mặt xây thành có chiều dài 314m, bề ngang 254m, tường thành phía Bắc hình cánh cung có bán kính 164m, thành dày 1m. Qua khảo cổ và dấu tích còn lại cho thấy xưa kia ở đây đã từng tồn tại Ngọ môn, sân rồng, chính điện, khu Thái miếu...nguy nga tráng lệ.

Rừng Lam Kinh
 

Cây đa trong rừng Lam Kinh - Ảnh: ttqd

Cùng với những ngọn đồi lượn sóng, khu rừng Lam Kinh đã tạo cho vùng đất cổ Xuân Lam (Thọ Xuân) và Kiên Thọ (Ngọc Lặc) một cảnh đẹp hiếm thấy với dòng sông Chu hiền hòa, ôm trọn phía tây bắc của khu rừng. Tuy không nằm ở những nơi thâm sơn cùng cốc như nhiều khu rừng khác, nhưng “lá phổi xanh” rộng 97 hecta này gần như vẫn còn nguyên trạng. Gỗ trong rừng, đa phần là lim xanh và nhiều cây gỗ rất quý như sui, sến, táu, vàng tâm. Dưới tán rừng già, nhiều loài chim, thú đã chọn cho mình một nơi trú ngụ. Sự kỳ thú của rừng Lam Kinh càng được khơi gợi khi chúng tôi được nghe kể những câu chuyện về nó. Cao nhất khu rừng hiện nay là cây gỗ sui màu trắng, nhẵn bóng với chiều cao khoảng 50m. Theo quy luật tự nhiên, cây cao nhất thường bị sét đánh, nhưng những tài liệu cổ và thực tế cho thấy: rừng Lam Kinh và cả khu di tích rất nhiều lần bị sét đánh nhưng cây sui này vẫn là ngoại lệ. Rồi một câu chuyện khác về cây lim cổ thụ trút lá và chết như là một sự hiến thân cho việc phục dựng khu di tích càng làm chúng tôi trầm trồ, kinh ngạc.Theo phân tích đường vân và chất gỗ thì cây lim cổ thụ đó đã có tuổi thọ hơn 600 năm và là một trong những cây cao nhất của rừng Lam Kinh. Vào cuối tháng 2 âm lịch năm 2010, đúng lúc có quyết định phục dựng và trùng tu khu di tích Lam Kinh thì cây lim trút lá. Sau nhiều lần tưới và chăm sóc, cây vẫn không ra lộc. Vào cuối tháng 7 âm lịch cùng năm thì cây chết hẳn. Đáng nói là lúc này người ta đang loay hoay chưa biết tìm đâu ra một cây cổ thụ để làm cột chính tòa chính điện. Sau nhiều lần làm đơn kiến nghị, các cơ quan chức năng đã đồng ý cho hạ cây lim vừa chết làm cột phục dựng tòa chính điện Lam Kinh vào 21 và 22 - 8 âm lịch năm 2010. Ai cũng biết cây lim chết do quá già, nhưng một sự trùng hợp kinh ngạc khác lại được chứng minh: chiều cao của thân lim đúng bằng với thiết kế của cây cột chính điện. Đường kính phần gốc của cây lim gần 1m, lại trùng khít với chân tảng cũ bằng đá. Đường kính phần ngọn cây lim hơn 60 cm cũng vừa bằng chân tảng con của chính điện.

Điện Lam Kinh
 

Du khách đi qua cầu Bạch để vào điện Lam Kinh. Cầu này trước đây gọi là cầu Tiên Loan Kiều được làm theo kiến trúc “thượng gia hạ kiều” (trên nhà, dưới cầu) bắc qua sông Ngọc. Qua khỏi cầu là Ngọ môn với sân rồng trước điện Lam Kinh được canh giữ cẩn thận. Điện Lam Kinh ngày chúng tôi đến chỉ còn lại dấu tích của nền móng nhưng vẫn cho thấy một kiến trúc quy mô với những chân cột được xếp vuông vức hình bàn cờ. Nối giữa sân rồng và chính điện là thềm rồng gồm 9 bậc với hai đôi rồng đá được khắc tinh xảo mang dáng vẻ điêu khắc đặc trưng của thời Lê. Phía sau điện Lam Kinh là Thái miếu, chạy theo hình vòng cung ôm lấy khu chính điện. Phía đông chính điện là khu cư xá của các quan và quân lính trông coi khu kinh thành.

Bia Vĩnh Lăng
 

Bia Vĩnh Lăng - Ảnh: ttqd

Văn bia Vĩnh Lăng do anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi soạn thảo vào năm Thuận Thiên thứ 6 (1433) ngay sau khi vua Lê Lợi qua đời và được táng ở Vĩnh Lăng. Cũng như các bia khác thời Lê bia có trang điểm diềm chạm rồng và hoa văn sóng nước xung quanh. Bia viết trên một mặt, trán bia viết chữ kiểu triện, bài văn thân bia gồm 25 cột chữ viết chân. Cũng theo lệ thường, văn bia có lối viết sang cột giữa chừng và viết đài lên một hàng các chữ như “Thái, Đế, Tằng, Hoàng, Sắc”… để tỏ ý kính trọng. Nội dung văn bia Nguyễn Trãi thuật lại xuất xứ Vua Lê Lợi, quá trình khởi nghĩa Lam Sơn cho đến khi đánh tan quân Minh, giải phóng đất nước. Đây là một trong số các văn bia hiếm hoi do Nguyễn Trãi soạn, mô tả khá tỉ mỉ xuất xứ Lê Lợi, đặc biệt thuật lại các diễn biến chính của khởi nghĩa Lam Sơn vốn chỉ được biết đến thông qua bài “Bình Ngô đại cáo”. Bia được làm bằng đá trầm tích biển nguyên khối cao: 2,97m; rộng: 94m; dày: 0,27m; đặt trên lưng một con rùa lớn cũng được tạc từ đá trầm tích biển nguyên khối có chiều dài 3,46m; rộng 94m; cao 0,94m kể cả đế.

Đền thờ Trung Túc Vương - Lê Lai
 

Nằm yên tĩnh cách Lam Kinh gần 6km, ngôi đền thờ Trung Túc Vương vẫn hướng về thành điện như Lê Lai lúc sinh thời vẫn trung quân một lòng vua tôi. Đến đây, du khách sẽ được nghe tích sử “Lê Lai liều mình cứu chúa” của những người dân trong vùng, tích sử đã cho thấy tấm lòng trung quân và sự hy sinh cao cả của Lê Lai đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp giữ nước của vua Lê Lợi (tức vua Lê Thái Tổ). Tương truyền rằng, trước khi Lê Lợi mất, ông đã ra lệnh cho triều đình sau này phải làm giỗ Lê Lai trước rồi mới làm giỗ cho mình. Bởi thế, trong dân gian ngày nay vẫn còn lưu truyền:”Hai mốt Lê Lai – Hai hai Lê Lợi”. Hàng năm, lễ hội Lê Lai được tổ chức hai lần: ngày 8/1 âm lịch là ngày mất của ông và vào ngày 21/8 âm lịch theo lệnh của Lê Lợi. Thế mới thấy, tình nghĩa vua tôi giữa Lê Lai và Lê Lợi thật sâu sắc và cảm động biết bao.

Lam Kinh không chỉ để lại dấu ấn về một vương triều dài nhất trong lịch sử dân tộc đã đạt đến thời hoàng kim của chế độ phong kiến mà nơi đây còn lưu giữ những huyền tích thấm đẫm tình người. Ở xứ Thanh nguời ta không nói "đến" Lam Kinh mà thường nói "về" Lam Kinh. Về Lam Kinh là về nơi đã diễn ra Hội thề Lũng Nhai: một đêm năm Bính Thân 1416, 19 người con của đất nước này đã hừng hực ý chí, thề đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt