<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đền Đào Quang Nhiêu

Ngôi đền ở xã Dân Hoà, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

Đình thờ Đào Quang Nhiêu (1601-1672). Ông là võ tướng thân tín của chúa Trịnh Tạc từng làm trấn thủ Nghệ An, trực tiếp cầm quân nhà Trịnh chống nhau nhiều trận với quân đội chúa Nguyễn do Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật chỉ huy. Năm 1672 ông mất, thọ 71 tuổi, được truy tặng tước Thái tể, thụy là Trung Cần và gia phong phúc thần.

Từ năm 25 tuổi đến năm 62 tuổi, ông đã từng đánh dẹp họ Mạc ở Thất Khê (Lạng Sơn), dẹp cuộc nổi loạn của phe phái ly khai ở Thanh Liêm (Hà Nam), tuần thú, bình định trấn Sơn Nam, tham gia chinh phạt họ Nguyễn ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đáng kể là trong năm năm (1655-1660), ông đã lăn lộn ở chiến trường phía nam, lúc ở Nam Đàn, khi ở Thạch Hà, lúc ở Thanh Chương, ngăn chặn không cho chúa Nguyễn đánh lấn ra bắc sông Lam... Sau những lần dẹp phản loạn, trấn giữ biên giới phía nam (thời Trịnh – Nguyễn phân tranh), lập được nhiều công lớn, năm 1661, ông Đào Quang Nhiêu được cử giữ chức Trấn thủ Nghệ An, kiêm giữ châu Bố Chính Quảng Bình. Theo tài liệu chính sử, nhà vua đã xét công trạng và thăng chức cho Đào Quang Nhiêu: năm 1645 đô đốc, tước quận công; năm 1652 Nam quận đô đốc; năm 1657 thiếu phó; năm 1659 phó tướng thiếu úy.

Không những có công với nước, Đào Quang Nhiêu còn gắn bó với quê hương bản quán và dòng họ. Ông đã mua 71 mẫu ruộng chia về các tổng, xã, thôn của huyện Thanh Oai để dân cày cấy gọi là “huệ điền”, mua mảnh đất một mẫu năm sào để lập chợ phiên cho dân làng. Ông được triều đình nể trọng và dân làng kính yêu, tôn vinh làm phúc thần của địa phương sau khi ông mất.

Do những công lao với nước, với dân, khi tướng công Đào Quang Nhiêu qua đời năm 1672 tại dinh trấn thủ Nghệ An, vua Lê cho 10 thuyền rồng rước linh cữu về quê nhà, tổ chức lễ tang theo nghi thức đại tễ, cho quan quân về lập đền thờ nguy nga, tạc tượng oai nghiêm và cắt riêng một khu đất cho con cháu thờ phụng.

Đền thờ ông hiện giờ chỉ rộng 1600 m2 gồm nhà tiền tế và hậu cung, lưu giữ được nhiều di vật quý như bộ long ngai, bài vị thế kỷ XVII, lọ sứ men lam, bát hương gốm Thổ Hà, chân nến đồng... Nổi bật có hai tượng phỗng gỗ cao 103 cm ở tư thế quỳ, phong thái khoáng đạt, tay cầm thẻ bài, có phong cách điêu khắc khác lạ, độc đáo. Hậu cung có bốn chấp kích. Đặc biệt khi đến thăm đền, mọi người đều chú ý tới tượng con trâu “buồn” và con hạc “rũ”. Đó là hai di vật được tạc bằng đá khối màu xanh sẫm. Trâu buồn là pho tượng thể hiện một con trâu tơ tạc bằng 1 tượng đá xanh liền khối ở tư thế nằm buồn, nhưng lại nổi lên rất rõ gờ sống lưng hằn từng vết đốt xương. Trâu nằm nghiêng, mắt nhắm và miệng thì nín lặng, lịm dần cho đến khi hồn lìa khỏi xác lúc nào cũng không biết. Hạc rủ lại là một khối đá đứng tạo hình con hạc đủ cả chân cao với từng chiếc vảy và 5 ngón chân gầy guộc. Con hạc dúi cái mỏ dài ngoẵng của mình vào một bên cánh và ủ rủ cho đến chết lúc nào cũng không biết.

Đền thờ ông còn có ba tấm bia, trong đó có tấm bia “huệ điền”, cao 188 cm, rộng 137 cm, dầy 21,5 cm, khắc chữ ở cả hai mặt, được trang trí đẹp. Bia làm vào năm 1665, nội dung ca ngợi chiến công đánh đông dẹp bắc của ông dưới triều đình Lê – Trịnh. Một tấm bia khác làm năm 1699, ghi lại việc ông lập chờ Tam Bảo, mở mang buôn bán hàng hóa ở vùng Toàn Cam. Trải qua mấy trăm năm, đến nay đền thờ Đào Quang Nhiêu không còn giữ được vẻ lộng lẫy, đồ sộ như ban đầu, song với những giá trị về nghệ thuật, kiến trúc, điều khắc vẫn xứng đáng được Bộ VHTT xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa quốc gia vào năm 2000.

Con trai ông là Đào Quang Quyền cũng là bậc danh tướng. Một người con trai khác là Đào Quang Huy, cũng được hưởng tập ấm của cha, bị chúa Trịnh Tạc kết tội, bắt cả nhà phải tự chết vào tháng 9/1673.

Ngôi đền hiện nay chỉ còn phần hậu cung với hai phỗng Chăm thời Hậu Lê, một bát hương sành Thổ Hà, một bia chữ nhật niên đại Cảnh Hưng 43 (1843) và một bia trụ vuông ở phía cổng làng.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt