<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Đại Bi
Bố Vệ - Đông Sơn - Thanh Hoá

Chùa Đại Bi còn gọi là chùa Mật Sơn, ở núi Ngọc Nữ (còn gọi là núi Kỳ Lân), xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chùa do vua Lê Huyền Tông dựng năm 1671 để thờ vua cha là Lê Thần Tông cùng các hoàng thái hậu.

Lịch sử
 

Năm 1619, Hoàng tử Lê Duy Kỳ được lập lên làm vua, lấy hiệu là Lê Thần Tông. Ông là vị vua duy nhất triều Lê Trung Hưng được lên làm vua tới hai lần (lần 1 từ năm 1619 đến 1643, lần 2 từ năm 1649 đến 1662) và trị vì đất nước đến 38 năm. Trong một lần về xứ Thanh, ngưỡng mộ cảnh đẹp vùng núi Kỳ Lân, ông đã sai dựng một ngôi chùa cạnh núi và đặt tên chùa là Đại Bi. Sau đó, nơi đây cũng được lựa chọn đặt Thượng sàng hạ mộ của vua Lê Thần Tông. Đây là nét độc đáo của chùa khi việc xây dựng chùa gắn liền với một vị vua.

Kiến trúc
 

Chùa được xây dựng bố cục theo hình chữ Đinh. Bái đường gồm 5 gian, chính điện 3 gian, cách Kênh Vi khoảng 200m. Tam quan xây theo kiểu chồng diêm ba tầng mái cong, phía trên cùng treo chuông đồng nặng 200 kg. Phía sau cổng tam quan là sân chùa được bài trí rất nhiều hiện vật bằng đá như voi, ngựa, nghê, bia đá, khánh đá. Ở khu vực điện thờ được bài trí gồm: gian thứ nhất (tính từ trong ra ngoài) là ba pho tượng Tam thế, gian thứ hai thờ tượng Quan Thế Âm, gian thứ ba chia làm hai: bên phải là tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn, bên trái là tượng vua Lê Thần Tông đặt cao, phía trước mặt thấp hơn, xếp theo tả hữu là tượng 6 bà hoàng phi mặc quốc phục. Sáu bà hoàng là 6 dân tộc khác nhau: Kinh - Thái - Mường - Hán - Lào - Cao Lan. Trong các tượng này có tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc ngự trên toà sen hai lớp, các bà khác đều được tạc tượng đội vương miện, tư thế toạ thiền.

Hai bên điện thờ là hai dải nhà Tả vu và Hữu vu.

Chùa có nhiều di vật là các tượng Phật. Theo các cụ cao niên trong làng, trước kia, trong chùa có hàng trăm pho tượng Phật và La Hán mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỉ XVII. Hiện nay, các pho tượng này phần lớn đã bị thất lạc. Tượng vua Lê Thần Tông và các bà Hoàng phi đã được gửi sang khu Thái Miếu nhà Lê để phụng thờ.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử cũng như chiến tranh tàn phá, ngôi chùa cổ dường như chỉ còn trong tâm thức của người dân nơi đây. Dấu tích duy nhất còn lại chỉ là cái giếng cổ trong chùa được xây từ thế kỉ XVII. Đây cũng là công trình văn hóa thể hiện sự giao thoa kiến trúc dân gian và bác học trong thời kì này.

Năm 2008, chùa được quan tâm tôn tạo lại, thu hút nhiều Phật tử đến chùa lễ Phật cũng như du khách gần xa đến vãn cảnh. Hiện nay, nhiều công trình trong chùa vẫn đang được phục dựng để phần nào khôi phục lại cảnh chùa trang nghiêm, thanh tịnh ngày xưa.

Sự kiện
 

Sáng ngày 24/03/1927, tại chùa Đại Bi, bất chấp sự nghiêm cấm của thực dân Pháp, khoảng 200 học sinh các trường trung học trong thị xã Thanh Hoá khi đó đã hội tụ về đây tưởng niệm cụ Phan Bội Châu. Ngày 19/08/1945, trên núi Kỳ Lân, cờ đỏ sao vàng của cách mạng lần đầu xuất hiện trong vùng báo hiệu chiến thắng. Hiện nay, quần thể chùa Đại Bi - núi Kỳ Lân đã được Sở Văn hóa - Du lịch và Thể thao Thanh Hóa xếp hạng Di tích Lịch sử - Cách mạng cấp tỉnh.


Nam Giang - Nam Trực - Nam Định

Chùa Đại Bi tọa lạc tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Căn cứ vào tư liệu văn bia, chùa được xây dụng thời Lý Nhân Tông (1042 - 1127). Chùa Đại Bi có kiến trúc độc đáo, nằm trên một vùng đất rộng, bằng phẳng.

Chùa hiện còn một số di tích thời Lê và thời Nguyễn. Theo các văn bia ở chùa, năm Gia Long thứ 13 (1814), chùa đại trùng tu, sửa chữa gác chuông; năm Tự Đức thứ 19 (1866), sửa chữa tiền đường và năm Duy Tân thứ 2 (1908), sửa chữa gác chuông. Đại hồng chung của chùa được đúc vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837).

Với kiến trúc nội công ngoại quốc, chùa Đại Bi có 60 gian bằng gỗ, trải rộng theo trục chính, cao dần từ ngoài vào trong. Gác chuông hai tầng kiểu chồng diêm, mái cong thanh thoát. Tam quan được xây dựng chếch sang phải, được chạm khắc mang phong cách thời Hậu Lê. Cửa chính của chùa được chạm khắc những hình rồng, hoa, lá, vân, mây cách điệu khá đẹp. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Ngoài ra, chùa còn thờ tượng đức Ngọc Hoàng và tượng ngài Từ Đạo Hạnh.

Chùa có giữ một số mặt nạ rối dùng trong hội chùa. Hội chùa hàng năm từ 21 đến 24 tháng giêng (âm lịch), nhân dân 3 giáp đều về dự lễ hội với các trò chơi đánh vật, múa sư tử, múa rối (hát sự tích Từ Đạo Hạnh) v.v.... Chùa đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa quốc gia năm 1963.


Thái Bảo - Gia Bình - Bắc Ninh

Ngôi chùa ở xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Theo thư tịch cổ, chùa được Huyền Quang Lý Đạo Tái cho xây tại quê nhà vào năm 1313.

Lý Đạo Tái sinh năm 1254, mất năm 1334, đỗ Trạng nguyên năm 21 tuổi, thời vua Trần Thánh Tông. Ông làm quan tại triều trong 20 năm, được thăng đến chức Bồi tụng, từng theo vua Trần Anh Tông (1293-1314) đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe Thiền sư Pháp Loa thuyết pháp. Từ đó Đạo Tái kính mộ đạo Phật, bèn từ quan để xuất gia.

Năm 1305, ông thụ giới Sadi tại chùa Vũ Ninh do Thiền sư Bảo Phác trụ trì, được ban pháp hiệu là Huyền Quang. Gặp Điều ngự Trần Nhân Tông (1278-1293) tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại, ông được giữ lại thị tùng trong vài năm. Sau đó, sư vân du nhiều nơi trong nước. Do kiến thức uyên thâm cả về Khổng (Nho), Phật, Lão (Đạo) nên những buổi thiền sư đăng đàn thuyết pháp có rất đông tăng đồ đến nghe. Khi trụ trì ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, tăng đạo của Thiền sư có đến cả nghìn người.

Truyền thuyết kể rằng vua Trần Nhân Tông muốn thử thách đạo tâm của Huyền Quang, bèn sai cung nữ Nguyễn Thị Điểm Bích cải trang đến quyến rũ, nhưng không lay chuyển được. Thấy Huyền Quang quả là bậc chân tu, Trần Nhân Tông mới lập làm quốc sư, trụ trì ở chùa Thanh Mai, rồi chùa Côn Sơn. Năm 1313, Thiền sư trở về làng Vạn Tái thăm cha mẹ, dựng lại chùa Đại Bi ngay sát cạnh nhà.

Ngôi chùa hiện đang được xây vào thời Nguyễn. Chùa gồm 5 gian Bái đường, 3 gian Hậu cung. Nhà Tổ 3 gian được xây dựng khá công phu, ngoài cửa có bức hoành phi “Lưỡng quốc Trạng nguyên từ”. Chùa còn quả chuông lớn đúc năm 1924. Trong vườn chùa còn hai tấm bia đá xanh, một tấm có ghi “Lý trạng nguyên hành trạng”, cao 1,69m, rộng 0,81m, 1 ngọn bảo tháp và cây hương đá. Chùa đã được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá quốc gia năm 1990.


Cát Quế - Hoài Đức - Hà Nội

Ngôi chùa ở thôn Quế Dương, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, thường được gọi là chùa Bái. Chùa được xây dựng từ lâu, sau đó bị tàn phế, dấu vết còn lại là bệ đá hoa sen hình hộp. Năm 1950, nhân dân đã góp tiền xây dựng lại chùa.

Ngôi chùa hiện nay có bố cục kiểu chữ Công (工), gồm toà tiền đường 7 gian, toà thiêu hương 3 gian, toà thượng điện có 3 gian. Hệ thống tượng có niên đại khá sớm, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX như 3 pho tượng Tam Thế, pho Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, pho Quan Âm thiên thủ thiên nhãn thế kỷ XVII.

Hiện tại chùa còn lưu giữ nhiểu di vật quý như: 1 bệ đá hoa sen hình hộp có niên đại năm 1374 với sự bố trí 4 chim thần, ở góc dưới mặt trước có trang trí 3 ô hình chữ nhật trang trí rồng, 2 ô phía sau trang trí hoạ tiết sư tử, hổ. Phía bên trên là cánh sen. Ngoài ra còn có 1 quả chuông thời Tây Sơn đúc năm 1798, 1 khánh đúc năm Bính Tý qua tạo tác có thể đoán định niên đại 1816.


Đông La - Hoài Đức - Hà Nội

Chùa ở thôn Đông La, xã Đông La, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Chùa được xây dựng từ lâu. Năm 1681, Nguyễn Công Triều vốn là một vị tướng thời Lê - Trịnh cho sửa chữa chùa. Những năm sau này, chùa tiếp tục được trùng tu và xây dựng thêm các hạng mục.

Ngôi chùa hiện nay có bố cục kiểu chữ Công (工). Toà tiền đường gồm 5 gian được xây dựng năm 1932. Toà thiêu hương gồm 2 gian và thượng điện 3 gian. Tam quan chùa được dựng năm 1990, gồm 1 gian 2 chái, có gác chuông ở tầng trên. Nhà hậu đường khởi dựng năm 1681 và được tu sửa vào năm 1932.

Chùa hiện còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị cổ xưa như: bia đá dựng năm Chính Hoà (1681) nói về hành trạng của Nguyễn Công Triều. Tượng mang phong cách thế kỷ XVIII có tượng chân dung Nguyễn Công Triều. Tượng mang phong cách thế kỷ XVII có pho tượng Tam Thế, tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn.


Hiệp Thuận - Phúc Thọ - Hà Nội

Chùa Đại Bi còn có tên khác gọi là chùa Bà Tề, do phiên âm từ một tiếng Chăm gốc Phạn, có thể là Padmâ, nghĩa là hoa sen. Chùa toạ lạc ở xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê, đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa.

Ngôi chùa hiện nay có bố cục kiểu chữ Công (工), kiến trúc đơn giản. Trong chùa có nhiều hiện vật quý, trong đó có 72 pho tượng đất nung sơn son thếp vàng, nhiều tượng có 2 bộ như Cửu Long, Chuẩn Đề, Văn Thù, Phổ Hiền v.v... Đặc biệt, chùa có tôn trí 3 pho tượng Tam Thế bằng gỗ cao 0,93m, ngang gối 0,63m được tạc theo phong cách tượng trong vùng Đông Nam Á.

Chùa có quả đại hồng chung khắc chữ "Bà Tề tự chung" đúc năm Gia Long thứ 12 (1813), khánh Bà Tề đúc năm Minh Mạng thứ 3 (1822), chân tảng đá chạm hình 16 cánh sen vào thời Lê. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia.


Kiến Hưng - Hà Đông - Hà Nội

Ngôi chùa ở thôn Mậu Lương, xã Kiến Hưng, Hà Đông, thành phố Hà Nội, còn gọi là chùa Hạ hay chùa Mậu Lương. Chùa tọa lạc trong khuôn viên có diện tích hơn 2.000m2, tổng thể mặt bằng kiến trúc bao gồm: tam quan, chùa chính, đền thờ, nhà tế, nhà khách và nhà hậu, được phân bố theo hình chữ Chi (之). Hệ thống tượng Phật bằng đất sơn son thếp vàng, niên đại sớm nhất là thế kỷ XVII.

Chùa còn lưu giữ một số hoa văn điển hình và đặc trưng như phù điêu bia đời Cảnh Hưng với tên Đại Bi tự bi lục. Trán bia phía trước chạm rồng, kiểu nghệ thuật thời Mạc, điểm xuyết quanh rồng là hạt tròn nổi cùng những cụm mây. Trán bia phía sau chạm phượng chầu mặt trăng, hình thức chạm phóng khoáng mang nét dân gian, cánh phượng như cánh chim, cánh gà bình thường, tượng trưng cho sự phồn thực, dân dã.


Tam Hưng - Thanh Oai - Thành phố Hà Nội

Chùa Đại Bi là tên gọi khác của chùa Bối Khê. Xem thêm chùa Bối Khê.


xã Xuân Vân - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang

Chùa Đại Bi toạ lạc trên một ngọn đồi nhỏ ở xóm Đô Thượng 4, xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Từ chân đồi đến lưng đồi là những phiến đá to, bằng phẳng, chồng xếp lên nhau, phân bố rải rác, tạo nên khung cảnh thiên nhiên đẹp mắt, khác lạ cho ngôi chùa.

Nguồn gốc
 

Theo lời những người cao tuổi trong vùng, thì chùa Đại Bi được xây dựng từ lâu đời, nhưng do không có người trông coi, nên ngôi chùa bị đổ. Mãi đến năm 1976, bà Trần Thị Kiệm một người rất sùng tín đã công đức đất đồi, và xin chính quyền địa phương cho xây dựng lại chùa.

Năm 2010, một phật tử người Hà Tây đến thăm chùa Đại Bi, nghe kể về chuông cổ lưu giữ tại chùa, ông đã dày công dịch được một số nội dung trên quả chuông. Theo đó, quả chuông được đúc vào thời nhà Lý, từ năm Nhâm Ngọ 1104 đến năm Canh Dần 1118 mới hoàn thành. Như vậy, thời gian bắt đầu đúc chuông hoặc thời gian hoàn thành xong việc đúc chuông, cũng là thời điểm chùa Đại Bi ra đời. Điều này có nghĩa chùa Đại Bi đã được khởi dựng cách nay hàng trăm năm, và chuông cổ của chùa cũng là di vật quý giá được người dân nơi đây trân trọng gìn giữ.

Di tích
 

Chùa Đại Bi được xây dựng lại theo hướng tây nam với 2 gian nhà gỗ, lợp mái tranh, làm nơi thờ Phật và thờ Mẫu. Về sau, gia đình ông Bùi Ngọc Thơm công đức trên 1.000 m2 đất, góp phần mở rộng khuôn viên ngôi chùa.

Qua nhiều năm, nếp chùa vẫn được giữ nguyên như cũ. Song ở lưng chừng đồi, hai bên được xây dựng thêm hai miếu mang tên Tam vị Thánh Ông và Địa Hoàng Thiên. Nghe kể, miếu thờ Tam vị Thánh Ông là thờ 3 ông đã có công lớn trong chống giặc cờ đen. Nhớ ơn các ông, bà con nhân dân tôn các ông làm Thánh, cung kính ân đức bằng việc lập miếu tại chùa Đại Bi.

Năm 2010, một phật tử ở thành phố Hồ Chí Minh đã công đức cho chùa bức tượng Phật Bà Quan Âm cao 3,6m... Bức tượng được dựng ở lưng đồi, càng tôn lên vẻ linh thiêng vốn có của chùa Đại Bi.

Mỗi năm, chùa Đại Bi có hàng nghìn lượt du khách thập phương đến dâng hương, vãn cảnh chùa. Du khách không chỉ được đắm mình trong không gian tĩnh tại, cầu chúc những điều tốt lành mà còn được nghe kể về quãng thời gian “thăng trầm” của chùa, của chuông cổ mà ít ai biết.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt