<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đỗ Công Tường

Đỗ Công Tường có tục danh là Lãnh, không rõ năm sinh, năm mất, quê ở miền Trung, vào Nam trong năm Đinh Sửu (1817), đời Gia Long, ngụ ở làng Mỹ Trà, tỉnh Sa Đéc, nay là thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Ông tính công minh, chính trực, được cử làm chức Câu đương, phân xử những vụ tố tụng trong làng. Ông đứng ra lập làng, cất chợ mưu lợi ích cho nhân dân.

Năm Canh Thìn (1820), nạn dịch tả hoành hành, ông hết lòng thương xót dân chúng, một mặt ra sức chạy chữa cứu giúp dân, một mặt ăn chay cầu nguyện xin chết thay dân chúng để dân được yên. Vài ngày sau, đến mùng 9-6, vợ ông mất, đêm sau ông cũng qua đời.

Tương truyền, chôn cất vợ chồng ông xong, bịnh thời khí dứt luôn. Dân chúng bình yên, cảm niệm đức độ ông, mới đặt tên chợ Vườn Quít khi ấy là chợ Câu Lãnh (câu là chức Câu đương của ông, Lãnh là tên tục của ông. Lâu ngày gọi trại là Cao Lãnh).

Khoảng năm 1936, triều đình Huế sắc phong làm “Dực bảo Trung lương thành hoàng chi thần”.

Hàng năm tế lễ vào ngày 9, 10 tháng 6 Âm lịch.

Người sau truy niệm:

Muôn miệng như nhau đã nói rành,

Câu Đương là chức, Lãnh là danh.

Lập làng khó nhọc, công vừa dứt,

Cất chợ chăm nom, việc mới thành.

Dân đụng giặc trời cam thọ tử,

Cụ đền nợ nước, quyết hy sinh.

Thoát nàn, bá tánh lo thờ phụng.

Miếu đó nghìn thu rạng tiếng lành.

Trong năm 1943, sân vận động ở Cao Lãnh được mang tên ông: Vận động trường Đỗ Công Tường.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt