<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thị xã Gò Công

Tổng quan
 

Thị xã Gò Công nằm ở phía Đông của tỉnh Tiền Giang; Bắc giáp sông Vàm Cỏ, ngăn cách với huyện Cần Đước của tỉnh Long An; Nam giáp huyện Gò Công Tâyhuyện Gò Công Đông; Tây giáp huyện Gò Công Tây; Đông giáp huyện Gò Công Đông. Về hành chánh, thị xã bao gồm 5 phường: 1, 2, 3, 4, 5; và 7 xã: Long Hoà, Long Thuận, Long Hưng, Long Chánh, Tân Trung, Bình Đông và Bình Xuân.

Thị xã Gò Công có vị trí khác thuận lợi về mặt giao thông thủy bộ. Quốc lộ 50 đi qua địa bàn thị xã nối thành phố Mỹ Tho, tỉnh Long Anthành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn có các đường tỉnh đi về các thị trấn ven biển cách 15 km về phía Đông. Rạch Gò Công bắt nhánh từ sông Vàm Cỏ, chảy qua thị xã theo hướng Bắc - Nam nối với các kênh rạch khác đi ra sông Tiền.

Địa bàn thị xã Gò Công vốn là trung tâm văn hoá của vùng Gò Công, là quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng. Ông Phạm Đăng Hưng đã từng làm quan Thượng thư dưới 3 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Con gái ông là bà Phạm Thị Hằng là vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức, tức Thái hậu Từ Dũ. Đây cũng là quê hương của nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhà văn Sơn Vương... Trong những năm 1925 - 1930, tại đây đã có Nhà xuất bản Nữ lưu thơ quán của Phan Thị Bạch Vân nổi tiếng toàn quốc, tập hợp nhiều cây bút tiến bộ đương thời cổ động cho nữ giới mở mang học vấn và bảo vệ luân lý đạo đức. Đây cũng là quê hương của nữ thi sĩ Lê Thị Kim (nữ sĩ Manh Manh), bà Cao Thị Khanh - chủ bút tờ Phụ nữ tân văn... Gò Công cũng là quê hương của điệu lý con sáo Gò Công nổi tiếng ở Nam Bộ.

Thị xã Gò Công còn bảo lưu được khá nhiều ngôi nhà cổ. Năm 2002 tổ chức JICA của Nhật đến khảo sát thì Tiền Giang có 350 ngôi nhà cổ mà riêng thị xã Gò Công có đến 2/3 loại nhà cổ giá trị này. Nhà cổ Đốc Phủ Hải là một trong số ấy. Ngoài ra, thị xã còn có những di tích quan trọng như lăng mộ Hoàng Gia, lăng mộ Trương Định, đình Trung, miếu thờ Võ Tánh...

Lịch sử
 

Từ cuối thế kỷ XVII, đã có nhiều nhóm di dân từ miền Trung đến khai phá rồi hình thành các cụm dân cư trên các giồng đất cát: giồng Nâu, giồng Chùa, giồng Lãnh, giồng Bà Lẫy, giồng Đình, giồng Tháp, giồng Bà Canh, giồng Lức... Họ sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi. Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược vùng đất phương Nam và tổ chức các đơn vị hành chính, vùng đất này thuộc quận Tân Bình, dinh Phiên Trấn.

Thời Gia Long, năm 1808, vùng đất Gò Công thuộc tổng Hoà Bình, trấn Định Tường. Năm 1831, Gò Công thuộc huyện Tân Hoà, phủ Tân An, tỉnh Gia Định, lỵ sở đóng ở Đồng Sơn. Năm 1867, Pháp lập hạt tham biện Gò Công, bao gồm 4 tổng: Hoà Đồng Thượng (có 8 làng), Hoà Đồng Hạ (có 10 làng), Hoà Lạc Thuợng (có 10 làng), Hoà Lạc Hạ (có 12 làng). Năm 1900, Pháp thành lập tỉnh Gò Công, vẫn bao gồm 4 tổng trên.

Ngày 09-02-1913, tỉnh Gò Công bị giải thể, thành lập quận Gò Công, thuộc tỉnh Mỹ Tho. Đến ngày 09-02-1924, Pháp lập lại tỉnh Gò Công bao gồm 5 tổng không có đơn vị hành chánh cấp quận: Hoà Đồng Thượng (5 làng), Hoà Đồng Trung (5 làng), Hoà Đồng Hạ (9 làng), Hoà Lạc Thượng (7 làng), Hoà Lạc Hạ (10 làng). Quận Gò Công Đông bây giờ thuộc hai tổng Hoà Lạc Hạ và Hoà Lạc thượng thời ấy.

Ngày 02-04-1955, chính quyền Sài Gòn chia tỉnh Gò Công thành 2 quận: Châu Thành và Hoà Đồng, thuộc tỉnh Định Tường; quận Châu Thành có 2 tổng: Hoà Lạc Thượng với 7 làng, Hoà Lạc Hạ với 10 làng; quận Hoà Đồng có 3 tổng: Hoà Đồng Thượng với 6 làng, Hoà Đồng Trung với 9 làng, Hoà Đồng Hạ với 8 làng. Năm 1965, địa bàn tỉnh Gò Công thời Pháp được chia thành hai quận Gò Công và Hoà Đồng thuộc tỉnh Định Tường. Ngày 20-12-1963, chính quyền Sài Gòn lập lại tỉnh Gò Công gồm 2 quận: Châu Thành và Hoà Đồng; quận Châu Thành có 2 tổng: Hoà Lạc Thượng với 9 xã, Hoà Lạc Hạ với 9 xã; quận Hoà Đồng có 2 tổng: Hoà Đồng Thượng với 8 xã, Hoà Đồng Hạ với 5 xã. Ngày 06-04-1965, quận Châu Thành được chia thành hai quận: Hoà Tân và Hoà Lạc, quận Hoà Đồng được chia thành hai quận: Hoà Đồng và Hoà Bình.

Sau 30-04-1975, Gò Công trở thành huyện của tỉnh Tiền Giang, gồm các xã: Đồng Sơn, Bình Nhì, Thạnh Nhựt, Tân Thới, Đông Thạnh, Vĩnh Hữu, Bình Phú, Thạnh Trị, Long Vĩnh, Tân Phú, Thành Công, Long Bình, Yên Luông, Bình Tân, Phú Thạnh, Bình Xuân, Bình Đông, Tân Trung, Tân Phước, Tân Tây, Tân Đông, Bình Nghị, Phước Trung, Gia Thuận, Kiểng Phước, Bình An, Phú Đông, Vàm Láng, Tân Điền, Tân Thành, Phú Tân.

Ngày 13-04-1979, huyện Gò Công được chia thành hai huyện: Gò Công Tây và Gò Công Đông. Ngày 16-02-1987, Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ban hành Quyết định số 37/HĐBT, thành lập thị xã Gò Công trên cơ sở thị trấn Gò Công, một phần diện tích và dân số của xã Tân Đông, một phần diện tích và dân số của xã Bình Nghị của huyện Gò Công Đông; một phần diện tích và dân số của xã Yên Luông, một phần diện tích và dân số của xã Thành Công của huyện Gò Công Tây. Thị xã Gò Công có tổng diện tích tự nhiên 3.100 ha với 4.803 nhân khẩu; bao gồm 2 phường: 1, 2 và 4 xã: Long Chánh, Long Hoà, Long Hưng, Long Thuận.

Ngày 23-06-1994, lập thêm phường 3 và phường 4. Ngày 09-12-2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 154/2003/NĐ-CP, thành lập phường 5 thuộc thị xã Gò Công trên cơ sở 160 ha diện tích tự nhiên và 7.740 nhân khẩu của xã Long Hoà. Ngày 21-01-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 09/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây để mở rộng thị xã Gò Công và thành lập huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Cụ thể như sau:

- Điều chỉnh 6.410,28 ha diện tích tự nhiên và 39.949 nhân khẩu của huyện Gò Công Đông (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Bình Đông, Bình Xuân và Tân Trung); 580,72 ha diện tích tự nhiên và 2.238 nhân khẩu của xã Thành Công thuộc huyện Gò Công Tây về thị xã Gò Công quản lý.

- Điều chỉnh 580,72 ha diện tích tự nhiên và 2.238 nhân khẩu (phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Thành Công thuộc huyện Gò Công Tây được điều chỉnh về thị xã Gò Công) về xã Bình Xuân thuộc thị xã Gò Công quản lý.

Sau khi điều chỉnh, thị xã Gò Công có 10.198,48 ha diện tích tự nhiên và 97.709 nhân khẩu, có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5 và các xã: Long Hoà, Long Thuận, Long Hưng, Long Chánh, Tân Trung, Bình Đông và Bình Xuân.

Kinh tế
 

Cơ cấu kinh tế của huyện bao gồm: Thương mại - Dịch vụ, Công nghiệp - Xây dựng, Nông - Lâm - Ngư nghiệp. GDP theo giá hiện hành tăng từ 120 tỷ VNĐ năm 1995 lên 205 tỷ VNĐ năm 2000 và 406 tỷ VNĐ năm 2005; giá so sánh 1994 tăng từ 103 tỷ VNĐ năm 1995 lên đến 161 tỷ VNĐ năm 2000 và 269 tỷ VNĐ năm 2005; bình quân tăng 9,4%/năm trong giai đoạn 1996 - 2000 và 10,8%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005.

Thương mại là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất và là động lực phát triển kinh tế thị xã. Theo thông tin từ Website tỉnh Tiền Giang, doanh số bán hàng của thị xã theo giá hiện hành tăng từ 502 tỷ VNĐ năm 1995 lên 800 tỷ VNĐ năm 2000 và 1.759 tỷ VNĐ năm 2005; tốc độ tăng bình quân từ năm 1995 - 2000 là 8,7 %/ năm, từ năm 2000 - 2005 tăng bình quân 11,8 %/ năm.Hệ thống thương mại thị xã Gò Công bao gồm các chợ, các cửa hàng nhà nước, hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân và các hộ cá thể.

Công nghiệp - Xây dựng đứng ở vị trí thứ 2 trong cơ cấu kinh tế của thị xã. Theo thông tin từ Website tỉnh Tiền Giang, giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp của thị xã theo giá hiện hành tăng từ 31 tỷ VNĐ năm 1999, lên 66 tỷ VNĐ năm 2000 và 115 tỷ VNĐ năm 2005. Thị xã đang kêu gọi đầu tư vào cụm công nghiệp Long Hưng. Các lĩnh vực khuyến khích đầu tư vào cụm công nghiệp: dệt may; sản xuất giày, dép xuất khẩu; công nghiệp giấy; chế biến nông sản, thực phẩm; công nghiệp nhựa; công nghiệp gốm, sứ, thủy tinh cao cấp, sứ cách điện, pha lê; công nghiệp cơ khí; điện, điện tử, công nghệ thông tin; hóa chất: sản xuất hóa mỹ phẩm, dược phẩm, thuốc vi sinh.

Nông - Lâm - Ngư nghiệp giữ vai trò thứ yếu trong cơ cấu kinh tế của thị xã. Trong nội bộ ngành này, trồng trọt vẫn còn giữ vị trí quan trọng, chiếm 78,7 % diện tích tự nhiên và chiếm 18,4% GDP với cây trồng chủ yếu là lúa, cây màu thực phẩm và cây ăn trái; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1996 - 2000 là 7,8 %/năm, từ 2000 - 2005 là 2,4 %/năm. Chăn nuôi chiếm tỷ trọng trung bình trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp; giá trị sản xuất giai đoạn 1996 - 2000 là 7 %/năm, 2000 - 2005 tăng bình quân là 2,7 %/năm. Ngành thủy sản chiếm khoảng 8 % giá trị tăng thêm; giá trị sản xuất năm 2005 đạt 8 tỷ VNĐ theo giá hiện hành (6,3 tỷ VNĐ theo giá so sánh năm 1994).

Xã hội
 

Giáo dục: mạng lưới trường lớp khá hoàn chỉnh, đã xoá được lớp học 03 ca. Năm 2009, thị xã có 15 trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông; trong đó có 04 trường đạt chuẩn quốc gia.

Y tế: mạng lưới y tế có 01 bệnh viện đa khoa khu vực, 01 Trung tâm y tế dự phòng, 01 phòng khám đa khoa khu vực và 09 trạm y tế xã phường. Ngoài ra, trên địa bàn thị xã còn có 10 phòng khám tư nhân, 29 đại lý tân dược, thuốc bắc, phòng thuốc nam.

Hệ thống đường bộ có 108,45 km, mật độ 3,38 km/km2 thuộc vào loại cao. Riêng các tuyến đường thị xã quản lý có trên 50% đã được trải nhựa. Điện được cấp từ trạm Gò Công 110/15 (KV) - (40+16) MVA qua 03 đường là 473, 873 và 874; trạm này có nguồn là tuyến 110 KV Mỹ Lợi - Gò Công. Ngoài ra, còn tuyến 110 KV Long An (phà Mỹ Lợi) - Gò Công dùng để dự phòng cho tuyến Mỹ Tho - Gò Công. Tỷ lệ điện khí hoá đạt 99,3 %. tế. Đến cuối năm 2005, tòan địa bàn có 5.467 máy điện thoại, đạt mật độ 10 máy/100 dân.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt