<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thành phố Thanh Hoá

Điều kiện tự nhiên

Thành phố Thanh Hóa là tỉnh lỵ tỉnh Thanh Hoá. Phía Đông giáp huyện Quảng Xương, huyện Hoằng Hoá và thị xã Sầm Sơn. Phía Tây giáp huyện Đông Sơn. Phía Nam giáp huyện Quảng Xương. Phía Bắc giáp huyện Thiệu Hoáhuyện Hoằng Hoá.

Bao gồm 12 phường: Hàm Rồng, Đông Thọ, Trường Thi, Nam Ngạn, Phú Sơn, Điện Biên, Ba Đình, Ngọc Trạo, Lam Sơn, Đông Vệ, Đông Sơn, Tân Sơn và 3 xã: Đông Cương, Đông Hương và Quảng Thắng.

Địa hình – cảnh quan

Địa thế thành phố Thanh Hóa cũng như địa thế tỉnh Thanh Hóa có những nét đặt trưng về phương diện sơn thủy: Một là các núi cao, sông sâu xen lẫn với đồng bằng thẳng ra biển, hai là các ngả giao thông lớn và cơ bản xuyên qua, và ba là hình dáng kỳ thú.

Núi non

Thành phố Thanh Hoá có bốn cụm núi bao quanh, đó là:

- Núi Hàm Rồng chạy từ làng Dương Xá, xã Thiệu Dương,  huyện Thiệu Hoá men theo hữu ngạn  sông Mã về đến chân cầu Hàm Rồng, trong núi có nhiều hang động đặc biệt là động Tiên và hang Mắt Rồng là những thắng cảnh nổi tiếng.

- Núi Rừng Thông

- Núi Nhồi  là núi đá vôi nằm ở phía Tây thành phố Thanh Hoá, trên đỉnh cao nhất có núi Hòn Vọng Phu. Trong những năm gần đây, đá núi Nhồi được khai thác để chế biến thành các mặt hàng mỹ nghệ phục vụ cho trang trí và xây dựng.

- Núi Một và núi Ngọc Long nằm trên đất làng Mật, phường Đông Vệ, trên núi có một nhà máy nước do người Pháp xây dựng từ năm 1931.

Sông hồ

Hệ thống các sông nội thành: thành phố Thanh Hoá được bao bọc bởi những con sông ở phía Bắc, phía Đông và phía Nam, các con sông này nối với nhau thành một mạng lưới chằng chịt, thuận tiện cho việc cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và điều tiết nước chống hạn.

Sông tự nhiên có sông Mã ở phía Bắc thành phố, còn lại là hệ thống sông đào như sông Thọ Hạc, sông Cốc, sông Lai Thành, sông Kiều Đại (sông nhà Lê), sông Kênh Bắc. Các sông này đảm nhận việc tiêu thoát nước cho toàn thành phố và các khu vực phụ cận. Kênh Vinh và đặc biệt là sông Quảng Châu là một trong những hình thể kiến trúc quan trọng, tạo nên các tuyến xanh cho thành phố.

Hệ thống hồ nội thành: hồ Thành, hồ Núi Long, hồ Nhà Hát, hồ Máy Đèn, hồ Tân Sơn...

Khí hậu

Thành phố Thanh Hoá nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC; độ ẩm 83%; lượng mưa 1.700mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 cho đến tháng 10; trong các tháng Giêng và Hai âm lịch còn có khoảng hơn 40 ngày mưa xuân.

Di tích danh thắng 

Thành phố Thanh Hoá không chỉ là nơi có cảnh quan đẹp, mà còn có nhiều di tích lịch sử cổ xưa.

Phía Bắc thành phố là khu thắng cảnh Hàm Rồng. Đây là khu du lịch trung tâm của cả thành phố và tỉnh Thanh Hoá. Khu thắng cảnh này đã được sử sách lưu danh với nhiều di tích lịch sử, cách mạng có di chỉ khảo cổ nổi tiếng trong và ngoài nước, có nhiều cảnh quan địa danh thắng cảnh đẹp: có sông, có núi, có hang động như động Long Quang, động Tiên, Núi Phượng, núi Voi, núi Rồng,...  cùng với sông Mã là những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Các di tích như đền thờ danh tướng Lê Uy, Chu Văn Lương, đặc biệt là khu di tích văn hóa - làng cổ Đông Sơn với di vật trống đồng Đông Sơn nổi tiếng.

Phía Nam thành phố là khu di tích thắng cảnh đẹp mà trung tâm là núi Mật Sơn có các hòn non bộ bao quanh như núi Long, núi Hổ, núi Vọng Phu,... và các di tích lịch sử khác như chùa Đại Bi, và đặc biệt là Thái Miếu nhà Lê - một di tích lịch sử văn hóa quốc gia mang nhiều dấu ấn dân tộc.

Trung tâm thành phố Thanh Hoá Bảo tàng lịch sử, là nơi giới thiệu cho du khách đến tham quan những khái niệm chung nhất về lịch sử Việt Nam và diện mạo văn hóa đặc sắc của tỉnh Thanh Hoá.

Xung quanh thành phố là các điểm du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng của Thanh Hoá như khu du lịch bãi tắm Sầm Sơn, vườn quốc gia Bến En, thành cổ Nhà Hồ, khu di tích Lam Kinh, bãi chim Tiến Nông, động Từ Thức, đền Bà Triệu.

Lịch sử

Phạm vi thành phố Thanh Hóa ngày nay vốn là trung tâm phát triển của vùng đất Cửu Chân thời các vua Hùng. Làng Đông Sơn trong thành phố là nơi phát lộ một di chỉ văn minh đồ đồng rực rỡ thời ấy, vì thế tên Đông Sơn đã được chọn đặt cho một nền văn hoá tiêu biểu của miền Bắc Việt Nam.

Năm 1804, vua Gia Long hạ chiếu chỉ di dời lị sở của trấn Thanh Hoá từ làng Dương Xá, xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hoá và làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, đồng thời tiến hành xây dựng thành trấn lị. Trấn thành Thanh Hóa hình lục lăng, có chu vi 630 trượng (gần 2,6 km), cao 1 trượng (4 m), có hào bao quanh mặt ngoài. Thành mở 4 cửa: Cửa tiền phía Nam, cửa hậu phía Bắc, cửa tả phía Đông Nam, cửa hữu phía Tây Nam. Trong Thành là nơi ăn ở, trị vì của các quan đầu tỉnh.

Tháng 11/1885, quân Pháp đổ bộ vào Thanh Hóa, chiếm thành Thanh Hoá. Ngày 22 tháng 7 năm 1889, vua Thành Thái ký đạo dụ thành lập thị xã Thanh Hóa bao gồm 7 làng: Đức Thọ Vạn, Cẩm Bào Nội, Cốc Hạ, Phủ Cốc (thuộc Tổng Bố Đức); Thọ Hạc, Đông Phố, Nam Phố (thuộc Tổng Thọ Hạc). 

Năm 1918, thị xã Thanh Hóa tổ chức thành 10 phường: Tả Môn (cửa Tả), Bắc Môn (cửa Hậu), Nam Môn (cửa Tiền), Đông Lạc, Thành Thi, Nam Lý, Phú Cốc, Vạn Trường, Bào Giang, Đức Thọ (Lò Chum). Ngày 31 tháng 5 năm 1929, toàn quyền Đông Dương ký Nghị định nâng cấp thị xã Thanh Hóa lên thành phố Thanh Hóa. Bốn tháng sau, ngày 11 tháng 9 năm 1929, Đốc lý thành phố điều chỉnh lại địa giới hành chính: Phía Bắc giáp làng Thọ Hạc, phía Nam giáp làng Mật Sơn, phía Đông giáp Bến Ngự và phía Tây giáp Phủ Đông Sơn. Cũng theo Nghị định trên, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1930, thành phố được chia thành 6 đơn vị hành chính, từ phường Đệ nhất đến Đệ lục.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ngày 24 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh Sắc lệnh số 11/SL quy định những thành phố thuộc tỉnh đều gọi là thị xã. Thành phố Thanh Hóa, mặc nhiên trở thành thị xã của tỉnh Thanh Hóa

Ngày 16 tháng 3 năm 1963, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định sát nhập xã Đông Giang (gồm 3 làng Nghĩa Phương, Đông Sơn và Nam Ngạn) thuộc huyện Đông Sơn và xóm Núi, xã Hoằng Long, huyện Hoằng Hóa vào thị xã. Ngày 28 tháng 8 năm 1971, Chính phủ ban hành Nghị định số 226/TTg sát nhập xã Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải thuộc huyện Đông Sơn và xã Quảng Thắng thuộc huyện Quảng Xương vào thị xã.

Ngày 05 tháng 05 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 132/BĐBT về phân loại đô thị, thị xã Thanh Hóa được xếp vào loại đô thị loại 4. Ngày 14 tháng 8 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra Quyết định số 214 BXD/ĐT công nhận thị xã Thanh Hóa là đô thị loại 3.

Ngày 01 tháng 5 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định 37/CP thành lập thành phố Thanh Hóa, thuộc tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở địa giới, diện tích và dân số của thị xã Thanh Hóa. Ngày 28 tháng 6 năm 1994, Chính phủ ra Nghị định số 55/CP thành lập phường Đông Thọ, phường Đông Vệ và chia phường Nam Ngạn thành 2 phường Trường Thi và Nam Ngạn.

Ngày 6 tháng 12 năm 1995, Chính phủ ra Nghị định số 85/CP điều chỉnh địa giới thành phố Thanh Hóa, sáp nhập xã Đông Cương thuộc huyện Đông Sơn, xã Quảng Thành, Quảng Hưng và một phần đất của xã Quảng Thịnh thuộc huyện Quảng Xương vào thành phố. Năm 2004, thành phố Thanh Hóa được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại II.

Giao thông

Do được bao bọc bởi các con sông, nên các tuyến đường vào nội thành đều phải qua sông, qua cầu. Phía Bắc có cầu Hàm Rồng, cầu Hạc; phía Đông Bắc có cầu Sâng, cầu Bốn Voi; Phía Đông có cầu Cốc, cầu Lai Thành; Phía Nam có cầu Quán Nam và cầu Bố; Phía Tây có cầu Cao.

Thành phố có 4 bến xe Đông, Tây, Nam, Bắc sẵn sàng phục vụ du khách đến giao lưu khắp nơi trong nước.

Kinh tế

Thành phố Thanh Hoá là trung tâm công nghiệp và thương mại của tỉnh. Trên địa bàn thành phố tập trung nhiều cơ sở sản xuất lớn với đủ các thành phần kinh tế khác nhau như: doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Trung ương, doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tỉnh, doanh nhiệp nhà nước trực thuộc thành phố, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ hợp và các hộ sản xuất cá thể.....


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt