<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thành phố Hồ Chí Minh
thành phố Hồ Chí Minh

Tổng quan
 

Một góc thành phố Hồ Chí Minh - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị phát triển nhất của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật quan trọng của cả nước. Thành phố nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Cửu Long, có bề dày lịch sử hơn 300 năm xây dựng và phát triển. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào khai phá vùng đất phương Nam, ông đã chọn vùng đất này và lập nên phủ Gia Định, đánh dấu sự mở đầu cho lịch sử hình thành thành phố. Năm 1859, quân Pháp chiếm thành Gia Định, để đặt nền móng cai trị lâu dài, người Pháp đã xúc tiến quy hoạch xây dựng thành phố Sài Gòn. Năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ đô của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đồng thời cũng là đô thị hạt nhân của vùng Đông Nam Á, từng được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông". Ngày 30-4-1975, chế độ Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ. Ngày 2-7-1976, Quốc hội Việt Nam họp, quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh".

Hơn 30 năm sau ngày giải phóng, thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều thay đổi đáng kể, tuy nhiên vị trí là "Hòn ngọc Viễn Đông" ngày nào đã không còn nữa, vì đã bị các thành phố lớn khác ở Đông Nam Á qua mặt. Hiện thành phố có 24 đơn vị hành chánh trực thuộc, bao gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Dân số thành phố năm 2006 đạt 6.424.519 người, mật độ trung bình 3.067người/km2 . Thành phố luôn đi đầu trong lĩnh vực phát triển kinh tế của cả  nước. Năm 2005, giá trị sản xuất trên địa bàn thành phố chiếm 20,2 % tổng sản phẩm trong nước. Trong đó, sản xuất công nghiệp của thành phố chiếm 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp của quốc gia. GDP năm 2006 của thành phố là 191.011 tỷ đồng; năm 2007 đạt 228.697 tỷ đồng, tương đương 14,3 tỷ USD, tăng 12,6% là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua. Sáu tháng đầu năm 2008, GDP của thành phố đạt 121.442 tỷ đồng (Nguồn tin từ Website thành phố: www.hochiminhcity.gov.vn )

Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông quan trọng nhất Việt Nam, với đầy đủ các loại hình giao thông: đường ôtô, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không. Do đó, việc giao lưu với các vùng trong cả nước và các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới rất thuận lợi. Thành phố cũng luôn đi đầu trong các lĩnh vực du lịch, giải trí, thể thao và truyền thông.

Tuy nhiên, hiện nay thành phố cũng đang đối mặt với những thách thức lớn từ nhiều vấn đề xã hội. Hạ tầng cơ sở yếu kém, không đủ đáp ứng cho tốc độ phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số quá nhanh. Tình trạng ùn tắt giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường đang ngày một phổ biến và trở thành nổi ám ảnh của nhiều người. Việc phát triển tràn lan, không theo quy hoạch và quy hoạch yếu kém đang đặt thành phố trước những khó khăn lớn, khó giải quyết.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Thành phố  Hồ Chí Minh nằm giữa khu vực đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây và Tây Nam là tỉnh Long Antỉnh Tiền Giang. Phía Nam thành phố tiếp giáp với biển Đông, mà trực tiếp là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái.

Lãnh thổ thành phố trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nằm trong tọa độ từ 10o22’33’’ đến 11o22’17’’ vĩ Bắc và từ 106o1’2’’ đến 107o1’10’’ kinh Đông. Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây. 

Điểm cực Bắc ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi. Điểm cực Nam ở xã Long Hòa, huyện Cần Giờ. Điểm cực Tây ở xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi. Điểm cực Đông ở xã Thanh An, huyện Cần Giờ. Tính theo đường chim bay, chiều dài từ Bắc xuống Nam khoảng 100km và chiều ngang Đông Tây rộng nhất khoảng 40km.

Diện tích của thành phố là 2.095 km2, chiếm hơn 6,36% diện tích cả nước, trong đó có 442,13 km2 thuộc nội thành và 1.652,88 km2 ngoại thành.

Địa hình, địa chất

Thành phố  Hồ Chí Minh nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa cực Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình thuộc dạng đồng bằng thấp, nhiều nơi còn là vùng trũng. Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới sông ngòi, kênh rạch. Chiều cao địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc không lớn lắm.

Các kiểu địa hình chính

  • Địa hình đồi bóc mòn: phân bốnhiều nhất ở khu vực Long Bình, quận Thủ Đức. Đặc trưng cho dạng địa hình này là các đồi hình bát úp, đỉnh tròn, sườn thoải cao từ 20 - 25 m, bề mặc bị phong hoá mạnh, dễ bị bóc mòn, rửa trôi.

  • Địa hình đồng bằng thềm với 3 bậc khác nhau: Bậc 1 phân bố ở huyện Bình Chánh, phía Đông huyện Hóc Môn, phía Nam huyện Củ Chi, quận Thủ Đức và toàn bộ huyện Nhà Bè, độ cao trung bình 1m được cấu tạo bởi trầm tích hỗn hợp sông và biển. Bậc 2 phân bố chủ yếu ở khu vực nội thành và chạy dọc theo các thung lũng sông thuộc huyện Củ Chi, độ cao trung bình từ 3-8m, tăng dần từ nội thành ra ngoại thành. Bậc 3 phân bố ở huyện Củ Chi và một phần quận Thủ Đức, độ cao khác nhau trung bình từ 5 - 25 m.

  • Địa hình đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến nông trường Lê Minh Xuân; vùng đầm lầy bãi bồi ven biển ở huyện Cần Giờ với độ cao 0,5 - 1 m và các giồng cát ven biển.

Các nhóm đất

Đất đai của thành phố được chia thành 4 nhóm chính: nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám và nhóm đất mặn

- Nhóm đất phèn chiếm khoảng 27,5%, đang được cải tạo và khai thác để trồng lúa, mía, thơm, đậu phộng ở các huyện ngoại thành như: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh

- Nhóm đất phù sa ít bị nhiễm phèn chiếm diện tích tương đối nhỏ, khoảng 12,6% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố, thích hợp cho việc trồng lúa, trong đó có khoảng 5.200 ha cho năng suất cao.

- Nhóm đất xám phát triển trên phù sa cổ chiếm khoàng 19,3%, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp hằng năm và các loại cây thực phẩm

- Nhóm đất mặn chiếm 12,2%, tập trung ở huyện Cần Giờ, đang được khai thác để trồng rừng, đặc biệt là đước.

Ngoài ra, thành phố còn có một số nhóm đất khác chiếm khoảng 28,4% diện tích còn lại như: đất đỏ vàng phân bố ở vùng gò đồi thuộc huyện Củ Chi và quận Thủ Đức, đất cát tập trung ở vùng ven biển huyện Cần Giờ, diện tích sông suối......

Cơ cấu sử dụng đất

Đất sử dụng cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 45,48%, tương đương 95.288 ha

Đất lâm nghiệp xếp hàng thứ hai với khoảng 15,98%, tương đương 33.471 ha

Đất chuyên dùng xếp hàng thứ ba. Trong đó đất phục vụ cho các công trình phúc lợi xã hội chiếm khoảng 11,38%, tương đương 23.844 ha; đất ở chiếm 7,97%, tương đương 16.688 ha.

Đất chưa sử dụng chiếm khoảng 19,19%, tương đương 40.210 ha, bao gồm diện tích mặt nước, sông suối, ao đầm.....Trong đó có khoảng 4.409 ha có thể cải tạo để đưa vào khai thác sử dụng.

Cơ cấu này được thống kê năm 2000. Hiện tại đã có những thay đổi nhất định. Xu hướng chung là đất nông nghiệp sẽ giảm dần, khu vực nội thành hầu như không còn đất cho nông nghiệp. Diện tích đất chuyên dùng sẽ tăng nhanh, đặc biệt là đất dành cho xây dựng các công trình xã hội. Theo xu hướng đó, giá đất sẽ gia tăng nhanh chóng.

Sông ngòi

Thành phố nằm giữa hai con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, nhưng lại chịu ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống sông Đồng Nai. Trên địa bàn thành phố còn có nhiều kênh rạch như: rạch Láng The, rạch Thị Nghè, sông Bến Nghé, rạch Lò Gốm,.....

Chế độ thuỷ văn của thành phố chịu tác động qua lại bởi hệ thống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, cùng với thuỷ triều. Hầu hết các kênh rạch và một phần hạ lưu sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đều chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Hằng năm vào khoảng tháng 9  đến tháng 11 Âm lịch, thành phố đều có những đợt triều cường mạnh, nhất là ở các khu vực ngoại thành, gần sông và cửa sông như: Thủ Đức, Hóc Môn, quận 12, quận 6....

Khí hậu, thời tiết

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Lượng bức xạ hằng năm tương đối lớn, khoảng 140 kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình trong ngày khoảng 6/24h. Nhiệt độ trung bình khoảng 27 - 28oC. Nhiệt độ cao nhất khoảng 32oC, vào tháng 6 hằng năm. Nhiệt độ thấp nhất khoảng 23oC, thường rơi vào tháng 12 hằng năm. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp, khoảng 2 - 3oC.

Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình 1.931mm/năm, phân bố không đều theo thời gian và không gian. Theo thời gian, khoảng 90% lượng mưa trong năm tập trung vào mùa mưa. Theo không gian, lượng mưa có xu hướng tăng dần từ Tây Nam lên Đông Bắc. Các huyện phía Nam và Tây Nam của thành phố như: Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, lượng mưa tương đối thấp, khoảng 1.000 - 1.400 mm/năm. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc như Củ Chi, Hóc Môn lượng mưa thường đạt trên 2.000 mm/năm.

Thành phố nằm trong khu vực ít chịu ảnh hưởng của gió bão. Khí hậu tương đối ôn hoà, không có những ngày hè quá nóng như các tỉnh miền Trung hay những ngày đông quá lạnh như các tỉnh miền Bắc. Đây là điều kiện thuận lợi để tập trung dân cư và phát triển kinh tế. Tuy nhiên khí hậu có sự thay đổi bất thường trong ngày, lúc nắng, lúc mưa như câu nói: "Sài Gòn sáng nắng chiều mưa". Ngoài ra, sự phân hoá gay gắt giữa mùa mưa và mùa khô cũng gây ra vấn đề thiếu nước ngọt vào mùa khô.

Một số chỉ tiêu trung bình về khí hậu của thành phố Hồ Chí Minh

ThángCả năm Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12
Nhiệt độ (oC) 1995 27,5 26,3 26,7 27,9 29,6 29,1 28,1 27,6 27,5 27,2 27,6 26,9 25,7
2001 28,2 27,3 27,6 28,9 30,0 29,3 28,1 28,7 27,7 28,4 27,9 26,8 27,2
Số giờ nắng 1995 2.155 214 234 227 252 196 185 148 149 122 159 116 152
2001 2.067 175 167 201 195 204 147 198 144 184 137 136 179
Lượng mưa (mm) 1995 2.084 12 0 12 18 269 295 366 493 188 274 106 51
2001 1.829 6 0,5 136 40 247 346 124 361 224 157 154 16

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh. Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh 4 - 2003

 

Tài nguyên thiên nhiên

Sinh vật

Rừng của thành phố  Hồ Chí Minh chủ yếu tập trung ở huyện Cần Giờ, đây là rừng ngập mặn ven biển. Năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Năm 2002, thành phố có 33.500 ha rừng, trong đó có 10.200 ha diện tích rừng tự nhiên và 23.300 ha diện tích rừng trồng.

Do giáp sông và giáp biển, thành phố có nguồn lợi thuỷ sản khá phong phú, giàu cả tầng cá nổi lẫn tầng cá đáy và gần đáy. Những loài cá phổ biến là các vôi, cá chẽm, cá măng, cá đao.... Động vật trên cạn nghèo nàn, có giá trị hơn cả là khu du lịch Vườn Cò ở quận 9 và khu vực rừng ngập mặn Cần Giờ.

Khoáng sản

Thành phố Hồ Chí Minh nghèo khoáng sản. Trên địa bàn thành phố có thể khai thác vật liệu xây dựng như: sét gạch ngói, cát, sỏi trên sông Sài Gòn, nguyên liệu cho gốm sứ và một ít than bùn....Tuy nhiên, số lượng rất hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu xây dựng của thành phố.

Ô nhiễm môi trường

Cũng như các thành phố lớn khác ở Việt Nam, vấn đề ô nhiễm môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh luôn trong tình trạng báo động đỏ. Do tốc độ phát triển nhanh, hạ tầng cơ sở lạc hậu, cùng với ý thức kém của người dân đã khiến cho môi trường sống của thành phố ngày một huỷ hoại nghiêm trọng.

Ô nhiễm không khí

Báo cáo môi trường quốc gia năm 2007 - chủ đề môi trường không khí đô thị Việt Nam vừa được Bộ Tài nguyên - môi trường công bố hôm 12-8-2008 cho biết vấn đề nổi cộm về môi trường không khí ở các đô thị hiện nay là ô nhiễm bụi. Hầu hết các khu vực trong thành phố đều bị ô nhiễm bụi, đặc biệt là các nút giao thông và các khu vực có công trường xây dựng. Theo báo cáo, tất cả các lần đo tại thành phố Hồ Chí Minh đều có nồng độ bụi trung bình một giờ vượt tiêu chuẩn, trong đó từ năm 2005 đến nay khu vực cầu vượt An Sương thường xuyên có nồng độ bụi cao nhất.

Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5937(1995) quy  định thì giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí trung bình 24 giờ là CO: 5mg/m3, SO2: 0,3mg/m3, bụi lơ lửng: 0,2mg/m3… nhưng mới đây theo khảo sát của Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố cho thấy, tại những điểm có lưu lượng xe qua lại nhiều, đặc biệt trong tình trạng  ùn tắc giao thông thì nồng độ những chất này cao gấp 3 đến 7 lần chuẩn cho phép.

Thống kê mới đây cho thấy, tại thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 3,5 triệu chiếc xe gắn máy và 500.000 ô tô các loại. 50%-60%  số mô tô, xe máy đang lưu hành không đạt yêu cầu về khí thải và âm thanh (thống kê của Cục Đăng kiểm Việt Nam 2006), ngoài tiếng ồn vượt mức giới hạn, hàng giờ lượng xe này thải ra một lượng khí thải với 6 triệu tấn CO2, 61.000 tấn CO, 35.000 tấn NO2, 12.000 tấn SO2 và 22.000 tấn CmHn

Ô nhiễm nguồn nước

Các con kênh ở thành phố hiện nay đều ô nhiễm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Vấn đề ô nhiễm nguồn nước của thành phố cũng hết sức nghiêm trọng, hầu hết các con kênh, rạch trên địa bàn thành phố giờ đã thành các con kênh nước đen, bốc mùi hôi thối do lượng rác thải sinh hoạt và công nghiệp không được xử lý thải ra hằng ngày. Kênh Tàu Hủ - Bến Nghé mỗi ngày phải hứng hàng trăm ngàn m3 nước thải công nghiệp và hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt. Ngoài ra, các con kênh khác như: kênh Tham Lương, kênh Đồng Đen, kênh Đôi, kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè cũng đang lâm vào tình trạng ô nhiễm độc hại. Nguồn nước của các con kênh này được các nhà môi trường xác định là không có khả năng duy trì sự sống. Hơn nữa, đây cũng là nơi sinh sản của ruồi, muỗi khiến thành phố phải đối mặt với một phen bùng phát muỗi vào tháng 2-2005.

Hiện thành phố đã và đang có nhiều dự án nạo vét, cải tạo các con kênh. Trong đó, nổi bậc nhất là dự án kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè được đầu tư khá tốn kém, tuy nhiên, đến nay vẫn còn đang trong tình trạng ngổn ngang.

Ô nhiễm rác

Một điều rất dễ dàng nhận thấy là hầu hết các tuyến đường, các con kênh ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đều có rác. Người dân thành phố thường hay có thói quen xả rác ra đường hay xuống kênh rạch. Nhiều khu vực, kênh rạch mới vừa tổng dọn vệ sinh, thu gom rác sạch sẽ hôm trước, vài ngày sau đã đầy rác trở lại.

Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác, một năm tiêu tốn trên 235 tỷ đồng để xử lý. Tuy nhiên, phương pháp xử lý rác hiện vẫn còn quá thô sơ, chủ yếu là chôn lấp, nên thường xuyên phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là nước rỉ rác.

Hiện thành phố có 4 bãi rác đang hoạt động là: bãi chôn lấp Phước Hiệp, Đa Phước, mỗi bãi có công suất tiếp nhận 3.000 tấn/ngày; bãi chôn lấp Gò Cát công suất tiếp nhận 2.000 tấn/ngày; bãi chôn lấp Đông Thạnh hiện tại chỉ tiếp nhận rác sinh hoạt công suất 1.000 tấn/ngày. Tại các bãi chôn lấp này thường phát sinh một khối lượng nước rỉ rác rất lớn, nhất là trong mùa mưa.

Hiện thành phố đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước rỉ rác ở bãi rác Gò Cát và bãi rác Đa Phước. Bãi rác Gò Cát có nhà máy xử lý nước rỉ rác được xây dựng từ năm 2005, do một đối tác Hà Lan thiết kế, nhưng ít khi chạy hết công suất. Mới đây Uỷ ban nhân dân thành phố cho phép Công ty SEEN  nghiên cứu xây dựng một hệ thống riêng biệt tại Gò Cát để xử lý toàn bộ lượng nước rỉ rác tồn đọng với công suất 200 m3/ngày. Công suất tối đa của nhà máy là 700 m3 nước thải/ngày, đêm. Chi phí xử lý nước rác theo tính toán trong mùa khô cũng như mùa mưa chỉ khoảng 30-40.000 đồng/m3, bằng 1/3 so với công nghệ nước ngoài. Nước rỉ rác sau khi xử lý đã đạt tiêu chuẩn loại B và được phép thải ra môi trường. Đồng thời, thành phố cũng đang đầu tư nhiều tiền của công sức để biến các bãi chôn lấp rác trở thành các “Công trường xử lý chất thải” hợp vệ sinh. Nhiều nhà máy xử lý chất thải rắn, nhà máy chế tạo phân bón và tái chế rác đang được xây dựng, nhằm phấn đấu giảm dần tỷ lệ chôn lấp đến năm 2010 còn 50%, và đến năm 2015 còn 30%.

Du lịch
 

Bến Nhà Rồng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất Việt Nam. Thành phố hội tụ hàng loạt thế mạnh về địa lý, tài nguyên du lịch nhân văn, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.

Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai là những nơi có thể khai thác du lịch sinh thái, hiện đã được các doanh nghiệp ở thành phố đưa vào khai thác hiệu quả.

Thành phố có bề dày lịch sử hơn 300 năm xây dựng và phát triển, do vậy, nguồn tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú. Hiện trên địa bàn thành phố có khoảng 400 di tích, trong đó có 45 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia, nhiều bảo tàng và các công trình kiến trúc văn hoá, tôn giáo có giá trị cao.

Thành phố có cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch khá tốt. Hệ thống nhà hàng, khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao như: New World Hotel Saigon, Caravelle Hotel, Windsor Plaza Hotel, Equatorial Hotel, Legend Hotel Saigon, Omni Saigon Hotel, Renaissance Riverside Hotel Saigon, Sheraton Saigon Hotel & Tower, Sofitel Plaza Saigon Hotel. Cùng với nhiều công ty du lịch nổi tiếng như: Saigontourist, Cholon tourist, Viettravel, Công ty dã ngoại Lửa Việt....thường xuyên tổ chức các tour du lịch đưa du khách trong nước và quốc tế đến thăm thành phố.

Về tình hình phát triển du lịch, nhìn chung, ngành du lịch của thành phố đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Theo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, trong 7 tháng đầu năm 2008, lượng khách quốc tế đến thành phố uớc đạt hơn 1.680.000 lượt, tăng 12 % so cùng kỳ năm ngoái. Trong 10 thị trường khách dẫn đầu, theo thứ tự là: Mỹ, Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Pháp, Singapore, Canada, Malaysia. Các thị trường khách đều có tỷ lệ tăng trưởng khá từ 10- 15% so với cùng kỳ. Về lượng khách nội địa, trong tháng 7/2008 ước tính có 60.000 lượt khách thành phố và các tỉnh lân cận đi nước ngoài qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất để du lịch, thương mại, thăm thân nhân với 3 điểm đến chính là Singapore, Malaysia và Trung Quốc. Doanh thu toàn ngành Du lịch thành phố trong 7 tháng qua đạt hơn 16.700 tỷ đồng, tăng 40% so cùng kỳ, đạt 58 % kế hoạch năm 2008.

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010, thành phố Hồ Chí Minh được xác định là trung tâm du lịch hàng đầu của Việt Nam cần được ưu tiên phát triển để tạo ra diễn biến về chất, đưa du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thành phố và hỗ trợ cho ngành du lịch các tỉnh phụ cận. Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP của ngành du lịch thành phố sẽ đạt 13,9% trong giai đoạn 2006 - 2010.

Di tích

Công viên nước Đầm Sen - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Điềm vui chơi - giải trí

Ẩm thực Sài Gòn

Nếu nói "đặc sản" của Sài Gòn thì thật sự khó mà nói được đó là gì. Tuy nhiên, nếu nói "món ngon" ở Sài Gòn thì lại không sao kể hết. Bởi một lẽ đơn giản rằng, ở thành phố này, món nào cũng có: Bắc – Trung – Nam; Tây – Ta – Tàu; từ trong các nhà hàng sang trọng, cao cấp đến những vỉa hè, ngõ hẻm, góc phố bình dân; từ sáng đến trưa, chiều, tối, khuya.....lúc nào cũng có.

Ăn sáng

Người Sài Gòn thường bắt đầu bằng buổi ăn sáng với những món ăn nóng: như phở, hủ tiếu, bún bò...Từ đường Võ Thị Sáu sang Pasteur có nhiều quán phở bò, gà nằm kế tiếp nhau. Đi về hướng quận Phú Nhuận trên đường Nguyễn Văn Trỗi gần chùa Vĩnh Nghiêm là hẻm nổi tiếng bởi phở Cây Trứng Cá, phở 2000, phở 24. Ngoài phở, còn có bún nước lèo quán Vườn Chuối góc đường Vườn Chuối - Điện Biên Phủ (quận 3). Bún bò Huế thì có quán Đông Ba hay dãy quán bún bò trên đường Trần Quang Diệu. Hủ tiếu Nam Vang thì bán nhiều ở khu Võ Văn Tần hay hủ tiếu Ty Lum (Nguyễn Trãi, quận 5).

Ngoài các món ăn Việt Nam, còn có các món ăn ngoại quốc. Rõ nhất có thể nói đến các món Dim Sum (điểm tâm) theo kiểu Hong Kong mà những nhà hàng lớn như Yeebo, Thuận Kiều Plaza, Equatorial… chọn làm thực đơn chủ lực cho bữa ăn sáng. Tuy nhiên, một số người lớn tuổi lại thích điểm tâm kiểu Chợ Lớn của nhà hàng Phong Lan vì nó còn phong vị cũ, đậm đà hơn những món Dim Sum hiện đại. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng trong ăn sáng, một số nhà hàng phục vụ nhiều món khác nhau để mọi người dễ lựa chọn như quán Tre Xanh (Lê Quý Đôn), buffet Ngon (Lê Thánh Tôn)…

Ăn trưa

Bữa ăn trưa có thể chọn kiểu cơm món Bắc mà quán Bà Cả Đọi lúc nào cũng đông khách. Nổi tiếng với canh chua cá lóc, cá bông lau và các món mắm thì có quán Minh Đức (Tôn Thất Tùng, quận 1) hoặc quán Cơm Ngon (Nguyễn Du). Nếu thích gần gũi với mùi đất, hương đồng thì đã có quán Cơm niêu Sài Gòn trên đường Tú Xương, hay ở khách sạn Majestic cũng có phục vụ. Khách sạn Quê Hương 4 có món cơm thố Việt Nam. Cơm gà thì có hai khu nổi tiếng là khu cơm gà Hai Bà Trưng - chợ Tân Định và khu Tạ Uyên (quận 11).

Để thưởng thức một lúc nhiều món ăn khác nhau, nên chọn những nơi có phục vụ buffet vì ngoài những món ăn mặn, thực khách có thể thưởng thức những món tráng miệng ngọt là những loại chè, bánh truyền thống. Theo xu hướng đó, hiện một số quán đã tăng cường chương trình buffet cuối tuần: Khu du lịch Bình Quới 1 với món ăn khẩn hoang, khu du lịch Văn Thánh vừa khai trương buffet cuối tuần món ăn Bắc và Trung. Nhà hàng Vạn Xuân chọn buffet các món ăn miền Bắc, trong khi nhà hàng Hào Phong có buffet hải sản. Các khách sạn đa số đều chọn thực đơn ba miền cùng một số món ăn quốc tế để phục vụ như Majestic, Rex, Bông Sen, Quê Hương, Palace, Grand, Sài Gòn... Các nhà hàng - làng nướng cũng là nơi góp mặt nhiều món ăn ngon và dân dã như Làng nướng Nam Bộ (CMT8, quận 10), Vườn ẩm thực Đông Hồ (Cao Thắng, quận 10), Vườn Cau (Tôn Đức Thắng, quận 1)…

Ăn tối

Buổi tối ở Sài Gòn hễ cứ đi ra đường là gặp quán ăn. Khu Chợ Lớn với các món ăn truyền thống Trung Hoa; khu Kỳ Đồng nổi tiếng với kiểu chế biến đồ ăn kỳ lạ từ dơi, cóc ké, kỳ đà, cá sấu; Thanh Đa có món cháo vịt nổi tiếng.

Phố ẩm thực

Sài Gòn, tuy các con đường không mang tên theo cách đặt tên phố ở Hà Nội, nhưng vẫn có nhiều khu phố ẩm thực, nổi tiếng với một món ăn nào đó như: đường Phan Xích Long chuyên bán các món tiềm như: bong bóng cá tiềm, óc heo tiềm, trúc tiềm… và đặc biệt là gà ác tiềm, quán nào cũng có bán. Đường 702 Hồng Bàng ở quận 11, chỉ dài độ 100m nhưng có đến mười lăm quán chuyên bán món chay. Góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi ngày nay, nổi danh với món cháo cá chợ Cũ, buổi chiều cho đến gần khuya, khách thường đến ăn rất đông, nhất là gần khuya, sau khi coi cải lương, hát bội hoặc hát bóng.

"Quán ăn" di động

Những hàng quán di động do những người bán chở trên xe đạp hay đẩy trên xe ba gác đi khắp đầu đường cuối hẻm để phục vụ tận nhà suốt cả ngày đêm. Những người bán hàng này, phần lớn là dân từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc vào, họ mang theo những món ngon của quê mình vào từng ngõ hẻm của Sài Gòn như: hủ tiếu gõ, cháo lòng, bánh chưng bánh giò, tàu hủ, bánh bò, đậu phộng luộc.....giá chì vài ngàn một món.

Hành chính hiện nay
 

Toà nhà UBND Thành phố - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thành phố Hồ Chí Minh là 1 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam. Hiện tại, thành phố bao gồm 24 quận huyện với tổng số 322 đơn vị hành chánh cấp xã, trong đó có 259 phường, 63 xã và thị trấn.

Các cơ quan quản lý hành chính cao nhất ở thành phố hiện nay bao gồm: Thành uỷ, Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND)

Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan đại diện cho Đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại thành phố, đứng đầu cơ quan này là Bí thư Thành uỷ, quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bí thư Thành uỷ hiện nay là ông Lê Thanh Hải, trước khi lên làm Bí thư, ông Hải từng là Chủ tịch UBND thành phố.

Hội đồng nhân dân theo quy định là cơ quan quyền lực của nhân dân thành phố, bao gồm các đại biểu được bầu lên với nhiệm kỳ hoạt động 5 năm. HĐND có quyền quyết định các kế hoạch phát triển dài hạn cũng như vấn đề ngân sách của thành phố. Đồng thời có trách nhiệm giám sát hoạt động của UBND thành phố. Đứng đầu HĐND là một Chủ tịch, một Phó chủ tịch và một Uỷ viên thường trực. Chủ tịch HĐND hiện nay là bà Phạm Phương Thảo. HĐND hợp mỗi năm 2 kỳ, tại các kỳ họp này, các đại biểu sẽ bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của thành phố. Hội đồng Nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, đồng thời chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Uỷ ban nhân dân thành phố do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của thành phố. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể như: Giáo dục, Y tế, Giao thông công chánh, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp......Chủ tịch UBND thành phố hiện nay là ông Lê Hoàng Quân.

Ở các quận huyện cũng có HĐND và UBND cùng với các phòng ban chức năng, chịu sự quản lý của các cơ quan tương ứng cấp thành phố.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Thời kỳ hoang sơ

Hàng loạt các di chỉ khảo cổ học được tìm thấy ở huyện Cần Giờ cho thấy con người đã hiện diện trên vùng đất Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh từ rất sớm. Ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ thời kỳ đồ đá cho đến thời kỳ kim khí. Những người cổ từng sinh sống trên miền đất Sài Gòn từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp. Một số phát hiện khảo cổ học cho thấy sự tồn tại của văn hóa Sa Huỳnh với những nét riêng trên đất Sài Gòn. Đó là thời kỳ phát triển rực rỡ của nền văn minh thời đại kim khí ở phía Nam. Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, là một khu vực dày đặc những di chỉ tiền sử hết sức phong phú trải dài trong khoảng 3.000 năm trước văn hóa Óc Eo.

Một số di chỉ tiêu biểu

Trong thời kỳ văn hoá Óc Eo (từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ VII), vùng đất Nam Đông Dương là nơi tồn tại của nhiều quốc gia cổ, với nhiều cộng đồng dân cư cùng sinh sống. Sài Gòn vào thời kỳ này có quan hệ với nhiều tiểu quốc đó. Từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX, sự tan rã của vương quốc Phù Nam đã có tác động và ảnh hưởng ít nhiều đến khu vực Nam Bộ. Đầu thế kỷ IX, Thủy và Lục Chân Lạp thống nhất mở đầu cho thời đại Angkor. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ IX đến XI, đất Sài Gòn Gia Định, hầu như đứng ngoài những ảnh hưởng của văn hóa Angkor. Từ thế kỷ XII trở đi sự tranh chấp và chiến tranh giữa các vương quốc cổ có xu hướng bành trướng, nhất là giữa Chăm Pa với Chân Lạp, giữa Chăm Pa với Đại Việt, cũng như sự mở rộng của vương quốc Xiêm La. Vùng đất Gia Định, Sài Gòn lại nằm trên lằn ranh của các cuộc tranh chấp đó. Sự tranh chấp kéo dài nhiều thế kỷ, đã biến vùng đất Sài Gòn - Gia Định, cho tới trước khi những cư dân Việt hiện diện, vẫn là miền đất hoang vu, vô chủ, là địa bàn sinh tụ lẻ tẻ của một vài nhóm cư dân cổ...

Sự xuất hiện của người Việt và công cuộc khai phá vùng đất mới

Từ đầu thế kỷ XVII, những người Việt đầu tiên đã vượt biển vào sinh sống tại vùng đất Sài Gòn, sau cuộc hôn nhân của vua Chân Lạp Chey Chettha II với một công chúa người Việt (theo phỏng đoán là công nữ Ngọc Vạn, con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên). Từ đó, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp trở nên tốt đẹp hơn.

Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Bù lại, chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang giúp vua Chân Lạp. Chúa viện trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm. Người Việt từ đó có thể sống rải rác khắp các vùng đất thuộc Chân Lạp đương thời. Ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy ngàn người. Như ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến Cá, Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên, v.v...

Sử Đại Việt và sử Chân Lạp cùng nhất trí ghi sự kiện: Năm 1674, Nặc Ong Đài đánh đuổi vua Nặc Ong Nộn. Nộn chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dương Lâm đem bính đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ong Thu làm Cao Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ong Nộn làm phó vương.

Năm 1679, một nhóm người Hoa theo phong trào “phục Minh chống Thanh” thất bại đã chạy sang Đại Việt, cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phước Tần tức Hiền Vương cho nhóm người này, dẫn đầu là Dương Ngạn Địch tới Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên tới Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống.

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu mới sai Nguyễn Hữu Kính (thường gọi là Cảnh) vào "kinh lý" miền Nam, thiết lập bộ công quyền, đặt nền pháp trị và xác định cương thổ quốc gia. Theo đường biển, quân của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng sông Đồng Nai đến Cù lao Phố (một phố cảng sầm uất nhất miền Nam bấy giờ). Sau đó, Nguyễn Hữu Cảnh thanh tra vùng đất Sài Gòn, thấy nơi đây “dân dư tứ vạn hộ”, đất đai khai mở “ngàn dặm” bèn đặt hai đơn vị hành chính đầu tiên tại Nam Bộ là huyện Phước Long và huyện Tân Bình, dưới quyền của phủ Gia Định.

Nguyễn Hữu Cảnh sắp xếp các bộ phận trông coi mọi việc như Ký lục (trông coi về hành chính, thuế khóa), Lưu thủ (trông coi về quân sự) và Cai bộ (trông coi về tư pháp). Giúp việc cho các quan là các Xá ty và một số đơn vị vũ trang. Đối với người Hoa, Nguyễn Hữu Cảnh tập hợp họ thành những tổ chức hành chính riêng như xã Thành Hà (dinh Trấn Biên), xã Minh Hương (dinh Phiên Trấn).

Tiếp đó, ông cho chiêu mộ nhân dân đi khẩn hoang lập ấp. Sử cũ chép: Nguyễn Hữu Cảnh đã chiêu mộ dân phiêu tán từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào đến vùng đất Trấn Biên và Phiên Trấn, rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh. Như vậy, biên giới Việt Nam đã mở rộng đến vùng này. Sài Gòn được chọn làm phủ lỵ của phủ Gia Định. Năm 1779, phủ Gia Định bao gồm: dinh Phiên Trấn (tức Sài Gòn), dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà), dinh Trường Đồn (tức Định Tường), dinh Long Hồ (tức Vĩnh Long, An Giang) và trấn Hà Tiên. Như vậy phủ Gia Định lúc bấy giờ đã trải rộng khắp miền Nam với diện tích khoảng 64.743km2

Những biến cố trên vùng đất Gia Định

Năm 1776, sau khi hạ thành Quy Nhơn, Tây Sơn tiến vào Nam đánh chiếm Gia Định, chúa Nguyễn thất thủ bỏ chạy sang Biên Hoà. Năm 1788, Nguyễn Ánh tái chiếm Sài Gòn, lấy nơi đây làm cơ sở để chống lại Tây Sơn. Năm 1790, với sự giúp đỡ của hai sĩ quan công binh người Pháp, Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel, Nguyễn Ánh cho xây dựng thành Gia Định theo kiểu thành Bát Quái làm trụ sở của chính quyền mới. Tới năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi ở Huế, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, cai quản 5 trấn khác là: Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long và Hà Tiên. Sáu năm sau, 1808, Gia Định trấn lại được đổi thành Gia Định thành. Trong khoảng thời gian 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại nhà Nguyễn, thành Bát Quái trở thành địa điểm căn cứ. Sau khi trấn áp cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái, xây dựng thành mới gọi là Phụng Thành. Năm 1836, Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh. Như vậy địa danh Nam Kỳ lục tỉnh bắt đầu có từ đây.

Năm 1859, quân Pháp đánh thành Gia Định, quân nhà Nguyễn tan rã, thành bị hạ, Hộ đốc thành Võ Duy Ninh tự sát. Sau đó, Pháp đã cho phá hủy thành Gia Định. Năm 1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam. Nguyễn Tri Phương đã chủ trương xây dựng đại đồn Chí Hòa để bao vây, bức rút quân Pháp. Tuy nhiên, vào ngày 25 tháng 10 năm 1861, quân Pháp đã tiến hành công phá đại đồn. Nguyễn Tri Phương đã chỉ huy quân lính chống cự quyết liệt nhưng rồi bị thương, đại đồn thất thủ. Từ đây, Gia Định chính thức rơi vào tay Pháp.

Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn

Sài Gòn được các nước phương Tây chú ý ngay từ những năm đầu thế kỷ XIX. Vì thế, sau khi đánh chiếm Gia Định. Từ năm 1862, người Pháp đã gấp rút xúc tiến việc quy hoạch xây dựng thành phố Sài Gòn thành một đô thị lớn nhiều chức năng về hành chính, quân sự, kinh tế, cảng v.v...theo kiểu phương Tây. Cũng trong thời gian này, người Pháp chia tỉnh Gia Định thành 3 phủ, mỗi phủ có 3 huyện, dưới huyện là tổng, dưới tổng là xã. Sài Gòn được chọn làm huyện lỵ của huyện Bình Dương, phủ lỵ của phủ Tân Bình và tỉnh lỵ của tỉnh Gia Định. Còn Chợ Lớn - khu vực do người Hoa lập nên là huyện lỵ của huyện Tân Long, phủ Tân Bình.

Theo thiết kế ban đầu, thành phố Sài Gòn được xây dựng sẽ bao gồm cả vùng Chợ Lớn. Nhưng sau do thấy diện tích quá lớn, khó quản lý và đảm bảo an ninh nên năm 1864, Pháp tách Chợ Lớn ra khỏi phủ Tân Bình. Lúc bấy giờ, Sài Gòn rất nhỏ bé, nằm gói gọn trong địa bàn quận 1 ngày nay. Còn Chợ Lớn là thành phố loại hai, tương đương với phần đất quận 5 ngày nay. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn là ruộng rẫy hoang vu.

Cho đến những năm đầu 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa phận tỉnh Gia Định. Ngày 15-3-1874, Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn. Thành phố được điều hành bởi một viên thống lý, hai viên phó đốc lý và một hội đồng thành phố. Còn Chợ Lớn, được thành lập do nghị định của thống đốc dân sự đầu tiên là Le Myre de Vilers, ký năm 1879.

Theo thời gian phát triển, dân số tăng lên. Sài Gòn và Chợ Lớn xích lại gần nhau và thực sứ tiếp giáp ở khoảng đường Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thiện Thuật bây giờ vào năm 1910.

Trong thời gian nửa thế kỷ, Sài Gòn đã thay đổi, hình thành nên một thành phố Tây Phương. Đường sá được thiếp lập. Dinh thự, phố xá, các khu dân cư cùng với các chợ... được xây dựng. Từ thủ phủ của Gia Định ngũ trấn (Gia Long), Nam Kỳ lục tỉnh (Minh Mạng), Sài Gòn theo thời gian đã trở nên trung tâm của ba tỉnh miền Đông (1862), rồi thủ phủ của Nam Kỳ (1867) và dần trở nên một trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng cho toàn Đông Dương.

Năm 1931, Sài Gòn và Chợ Lớn được mở rộng và sáp nhập vào nhau, thành phố trở thành đô thị lớn nhất Đông Dương. Vào cuối năm 1950, Mỹ vào thay thế Pháp, Sài Gòn trở thành thủ đô của miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Cùng với việc xây dựng để bảo vệ các cơ quan đầu não về chính trị, quân sự, Mỹ đã đầu tư phát triển xây dựng, mở mang làm cho thành phố Sài Gòn trở thành một trung tâm kinh tế phát triển, một thời được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông”. Đồng thời Sài Gòn cũng là thủ đô của chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam Việt Nam. Thành phố gồm 8 quận nội thành, dân số năm 1965 là 485.295 người.

Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 30/4/1975, Sài Gòn được giải phóng. Ngày 2/7/1976, Quốc hội khoá VI họp lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho thành phố Sài Gòn, đồng thời mở rộng diện tích thành phố, bao gồm: thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định, huyện Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa, huyện Bến Cỏ của tỉnh Bình Dương. Năm 1978, sáp nhập thêm một phần của tỉnh Đồng Nai. Năm 1979, các đơn vị hành chính cơ sở được phân chia lại, toàn thành phố có 261 phường, 86 xã. Sau đợt điều chỉnh tiếp theo vào năm 1989, thành phố còn 182 phường và 100 xã, thị trấn. Đến năm 1997, phân chia hành chính của thành phố lại thay đổi, gồm 17 quận, 5 huyện với 303 phường xã, thị trấn. Năm 2003, quận Tân Bình tách thành hai quận Tân Phú và Tân Bình. Huyện Bình Chánh tách thành quận Bình Tân và huyện Bình Chánh. Nâng tổng số quận huyện của thành phố lên 24, trong đó có 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.

Nguồn gốc một số tên gọi

Sài Gòn

Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674, Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Luỹ Sài Gòn" (tiếng Hán viết là 柴 棍 "Sài Côn", đọc theo âm Nôm là “Sài Gòn”. Có thể giải thích cách cấu tạo như sau: chữ Sài mượn âm Hán giữ nguyên cách đọc, chữ Gòn thì mượn âm Hán nhưng đọc chệch mà thành). Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn. Khi Nguyễn Hữu Cảnh đến đây, thì đã có tên gọi Sài Gòn.

Còn về việc tên gọi Sài Gòn do đâu mà có thì có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Tuy nhiên, giả thuyết được nhiều người đồng tình nhất là của Trương Vĩnh Kí. Ông này cho rằng, tiếng Sài Gòn có nguồn gốc từ tiếng Cao Miên là "Prei Nokor", vì vùng đất này trước là của người Cao Miên. Trong tiểu giáo trình Địa lý Nam Kỳ, ông đã công bố một danh sách đối chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokor. Hai ông Nguyễn Đình Đầu và Lê Trung Hoa đều đồng ý với thuyết này, dựa theo lịch sử và ngữ âm.

Theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế. Tới năm 1674, Cao Miên có biến, chúa Nguyễn sai Nguyễn Dương Lâm đánh và phá luỹ Sài Gòn. Như vậy, rõ ràng là có sự liên hệ rất chặt chẽ giữa Prei Nokor và Sài Gòn. Người Hoa phiên âm tiếng Sài Gòn thành 西 贡, tiếng Hoa đọc là Xi Gong.

Chợ Lớn

Ngày nay, trong thói quen của người thành phố, Sài Gòn là tên gọi dùng để chỉ khu vực trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh, tức là khu quận 1quận 3. Còn khu vực quận 5, quận 6 thì được gọi là Chợ Lớn. Chợ Lớn là khu vực có nhiều người Hoa tập trung sinh sống. Họ giỏi kinh doanh buôn bán. Vào năm 1778, một Hoa kiều đã bỏ tiền ra xây dựng một khu chợ rất lớn ở đây, vì thế người Việt gọi là chợ Lớn. Tên chợ được dùng để chỉ tên vùng cho đến nay. Ngày nay, chợ Lớn chính là chợ Bình Tây, đây là chợ đầu mối các mặt hàng thủ công lớn nhất ở thành phố Hồ Chí Minh. Riêng người Hoa thì gọi khu vực này là 堤 岸, âm Trung Quốc là Di An, âm Hán Việt là Đê Ngạn, có nghĩa là bờ đê. Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine, và Garnier, Cholen, thì năm 1778, người Hoa ở Cù lao Phố (Biên Hòa) vì giúp đỡ nhà Nguyễn nên bị quân nhà Tây Sơn tàn sát phải rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), chọn vùng đất ở giữa đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, tức vùng Chợ Lớn ngày nay. Năm 1782, họ lại bị quân nhà Tây Sơn tàn sát một lần nữa. Ít lâu sau họ xây dựng lại, đắp đê cao để phòng thủ. Vì thế mới có tên gọi này.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chánh trực thuộc Trung ương có số dân lớn nhất cả nước. Đây cũng là địa phương có tốc độ phát triển dân số cao nhất nước. Dân số thành phố qua các năm (nguồn từ Cục Thống kê thành phố)

  • Năm 1979: 3.419.978 người

  • Năm 1989: 3.988.124 người

  • Năm 1999: 5.037.155 người

  • Năm 2002: 5.449.217 người

  • Năm 2006: 6.424.519 người

Dân số thành phố tăng nhanh là do hai nguyên nhân: tự nhiên và cơ học. Trong đó gia tăng cơ học đóng vai trò quan trọng. Do thành phố là trung tâm kinh tế lớn nhất nước, vì vậy có sức hút lao động đến từ các địa phương khác. Theo thống kê, tốc độ gia tăng cơ học bình quân thời kỳ 1986 - 1989 là 0,78%. Trong 5 năm tư 1994 - 1999, số người nhập cư từ các tỉnh khác đổ vào thành phố là 415.387 người, từ nước ngoài là 5.831 người. Trong khi đó, số người xuất cư là 78.375 người. Như vậy, tỷ suất di cư thuần tuý đạt mức 7,22%, cao hơn nhiều so với thành phố Hà Nội 4,8% và thành phố Đà Nẵng 4,7%.

Về quy mô dân số theo các quận huyện, theo thống kê năm 2006 của Cục Thống kê thành phố, dân số tập trung trong các quận nội thành là 5.387.338 người, các huyện ngoại thành là 1.037.181 người. Trong đó, đông nhất là quận Gò Vấp với 496.905 người, thấp nhất là huyện Cần Giờ với 67.385 người.

Dân cư thành phố phân bố không đều, có sự chênh lệch lớn giữa nội thành và ngoại thành, cao nhất là quận 4 với 45.442 người/km2, thấp nhất là huyện Cần Giờ với 96 người/km2 (theo số liệu năm 2006 của Cục Thống kê thành phố).

Cơ cấu dân số

Dân số của thành phố Hồ Chí Minh là dân số trẻ. Theo kết quả điều tra dân số ngày 1-4-1999, trên 23,8% dân số của thành phố ở độ tuổi dưới 15 và chỉ có 5,25% số dân từ độ tuổi 65 trở lên. Tỷ số này thấp hơn so với cả nước, điều đó có nghĩa là tỷ lệ người trong độ tuổi lao động của thành phố cao hơn.

Cơ cấu giới tính giữa nam và nữ của thành phố trong những năm qua theo xu hướng tăng dần tỷ trọng nam và giảm dần tỷ trọng nữ. Cụ thể, tỷ trọng nam đã tăng từ 47,8% trong năm 1995 lên 48,2% trong năm 2002.

Cơ cấu theo lao động: Do dân số trẻ và lượng người nhập cư đông đảo nên nguồn lao động của thành phố Hồ Chí Minh tương đối dồi dào. Năm 2002, số người trong độ tuổi lao động là 3.582.428 người, chiếm khoảng 65,7% dân số. Sự phân bố lao động theo ngành của có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Tỷ lệ lao động nông - lâm - ngư nghiệp giảm mạnh, từ 20,4% năm 1979 xuống còn 6,2% vào năm 2002. Ngược lại, tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành dịch vụ gia tăng đáng kể từ 38,2% năm 1979 đến 52,5% vào năm 2002. Riêng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp - xây dựng thì tương đối cao và ít thay đổi, đạt 41,3% vào năm 2002. So với mức trung bình của cả nước và các tỉnh, chất lượng lao động của thành phố Hồ Chí Minh tương đối cao hơn. Theo số liệu thống kê năm 2002 của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, tỷ lệ lao động chưa biết chữ của thành phố là 0,49% (cả nước 2,06%), tốt nghiệp tiểu học 31,03% (cả nước 36,39%), tốt nghiệp trung học cơ sở 26,12 % (cả nước 22,37%), tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 32,30 % (cả nước 22,99%). Thành phố cũng là nơi tập trung 37% tổng số cán bộ khoa học kỹ thuật trong cả nước, đây là điều kiện hàng đầu để xây dựng một nền kinh tế tri thức. Năm 2000, tỷ lệ người lao động không có chuyên môn kỹ thuật của thành phố chiếm 57,5% tổng số lao động, tỷ lệ người lao động có bằng cấp từ công nhân kỹ thuật trở lên đạt 19,4%.

Giáo dục

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm giáo dục và khoa học kỹ thuật trong khu vực và cả nước với hệ thống các viện nghiên cứu và các trường đại học công lập cũng như dân lập. Công tác giáo dục vào đào tạo trong những năm qua đã có những thay đổi đáng kể về số lợng lẫn chất lượng. Số trường lớp cũng như đội ngũ giáo viên không ngừng gia tăng.

Hệ thống giáo dục ở thành phố có thể phân thành các bậc: mầm non, phổ thông, Trung học nghề - Cao đẳng và Đại học. Trong đó, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố quản lý các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non đến phổ thông trung học. Các trường Trung học nghề - Cao đẳng và Đại học thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay một số Bộ ngành khác.

Ở bậc giáo dục mầm non: Theo Cục Thống kê thành phố, năm học 2005-2006, toàn thành phố có 533 trường với 9.356 giáo viên và 188.019 học sinh. Năm học 2006-2007, số trường lên đến 598 trường, số giáo viên là 10.544 người và số học sinh là 204.696 em.

Ở bậc giáo dục phổ thông: Theo số liệu trên trang của Cục Thống kê thành phố, năm học 2005-2006, toàn thành phố có 809 trường với 34.292 giáo viên và 890.279 học sinh. Năm học 2006-0227, có 813 trường, 35.104 giáo viên, 909.494 học sinh. Trong số 813 trường của năm học 2006-2007, có 616 trường tập trung ở các quận nội thành, các huyện ngoại thành chiếm 197 trường.

Ở bậc Trung học nghề - Cao đẳng và Đại học: Năm 2005, toàn thành phố có 90 trường, trong đó có 38 trường Đại học, 20 trường Cao đẳng và 32 trường Trung học nghề. Tổng số giảng viên là 13.007 người, trong đó bậc Đại học là 9.012 người, Cao đẳng là 2.380 người và Trung học nghề là 1.615 người. Số học viên trên đại học là 7.706 người, số sinh viên Đại học là 241.696 người, số sinh viên Cao đẳng là 79.376 người, số sinh viên Trung học nghề là 86.330 người. Trong số này có khoảng 40% sinh viên đến từ các tỉnh thành khác trong cả nước. Trong số các trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống Đại học Quốc gia baò gồm các trường: Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc tế, Khoa Kinh tế cùng với các trường Đại học khác như: Đại học Sư phạm, Đại học Y dược, Đại học Kiến trúc, Đại học Nông lâm, Đại học Luật, Đại học Kinh tế.....đầu là những trường Đại học hàng đầu của Việt Nam.

Bên cạnh các trường công lập, thành phố còn có hệ thống các trường dân lập và quốc tế thuộc tất cả các cấp bậc từ mầm non đến Đại học. Trong số đó, có thể kể đến như: Trường Tiểu học Quốc tế Việt Úc, Trường Trung học Á Châu, Đại học Hoa Sen, Đại học Hồng Bàng, Đại học Kỹ thuật Công nghệ, Đại học FPT, Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam.....

Thành phố Hồ Chí Minh có 65 viện và phân viện khoa học kỹ thuật, 36 trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học. Những trung tâm này luôn đi đầu trong việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống. Các ngành nghiên cứu hiện nay đang được chú trọng là: công nghệ chế biến tài nguyên; nghiên cứu vật liệu mới; vật liệu xúc tác cho các quá trình chế biến dầu mỏ, dầu thực vật; các công nghệ chống ô nhiễm, chống ăn mòn, chống rỉ; công nghệ chế tạo máy móc thiết bị; công nghệ điện tử - tin học - viễn thông....

Y tế

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm y tế hàng đầu của cả nước. Nơi đây tập trung những cơ sở y tế lớn với đội ngũ cán bộ có trình độ tay nghề cao. Năm 2002, toàn thành phố có 1 viện nghiên cứu y học, 38 bệnh viện, 43 phòng khám khu vực, 10 nhà hộ sinh, 303 trạm y tế, 5 trung tâm chuyên khoa với tổng số giường bệnh đạt 17.418 giường. Theo số liệu của Cục Thống kê thành phố, năm 2005, số bệnh viện là 56, không kể các bệnh viện dân lập và quốc tế, số giường bệnh là 19.442 giường. Toàn thành phố có 15.612 cán bộ y tế ngành y, 1.989 cán bộ ngành dược và 46 cán bộ đông y, trong đó có 3.399 bác sỹ, đạt tỷ lệ 5,45 người trên 10 ngàn dân.

Thành phố có những bệnh viện đa khoa lớn hàng đầu cả nước như bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Thống Nhất, bệnh viện Đại học Y Dược.....Ngoài ra, thành phố cũng có những bệnh viện chuyên khoa như: bệnh viện Da Liễu, bệnh viện phụ sản Từ Dũ, bệnh viện Mắt, Viện Tim thành phố, bệnh viện Tai Mũi Họng, Trung tâm lao và bệnh phổi Phạm Ngọc Thạch, bệnh viện Nhi Đồng......đều là những bệnh viện hàng đầu ở miền Nam và cả nước.

Hệ thống bệnh viện dân lập và Quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh cũng rất phát triển. Tiêu biểu có thể kể đến như: bệnh viện Quốc tế FV, bệnh viện Phụ sản Quốc tế Sài Gòn, bệnh viện An Sinh, bệnh viện Triều An, bệnh viện Quốc tế Vũ Anh....đều là những bệnh viện có chất lượng điều trị cao, đạt chuẩn quốc tế.

Hệ thống bệnh viện của thành phố phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các quận trung tâm thành phố như quận 1, quận 3, quận 5, quận 7. Ở các huyện ngoại thành thì tương đối thưa thớt hơn. Ở đây, sự chăm sóc y tế chủ yếu dựa vào các trung tâm y tế địa phương.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Thành phố Hồ Chí Minh hiện là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam. Tổng sản phẩm (GDP) của thành phố trong những năm qua liên tục tăng, tuy tốc độ tăng trưởng giữa các năm có sự khác biệt. Năm 1990, GDP của thành phố là 17.993 tỷ đồng, năm 2000 là 48.500 tỷ đồng. Như vậy, trong vòng 10 năm, GDP của thành phố tăng 2,7 lần (tính theo giá so sánh năm 1994). Năm 2002, GDP của thành phố đạt 63.689 tỷ đồng, chiếm hơn 20,3% GDP của cả nước, cao gấp 2,5 lần thành phố Hà Nội, 6,5 lần thành phố Hải Phòng và 14,9 lần thành phố Đà Nẵng.

Quảng trường Mê Linh - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Theo nguồn tin từ UBND thành phố: Năm 2005, GDP của thành phố chiếm 20,2% so với cả nước, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 27,9%, kim ngạch xuất khẩu đạt 38,5%. Về thương mại và dịch vụ thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố đạt 12,4 tỷ USD.

Cơ cấu kinh tế của thành phố hiện nay bao gồm: Thương mại - Dịch vụ, Công nghiệp - Xây dựng, Nông lâm ngư nghiệp. Trong đó, ngành Thương mại - Dịch vụ và Công nghiệp - Xây dựng chiếm ưu thế tuyệt đối trong thành phần GDP. Ngành Nông lâm ngư nghiệp có vai trò không đáng kể. Theo thống kê của UBND thành phố, năm 2006, cơ cấu các ngành lần lượt như sau: Thương mại - Dịch vụ chiếm 51,1%, Công nghiệp - Xây dựng chiếm 47,7%, Nông lâm ngư nghiệp chiếm 1,2%.

Về cơ cấu thành phần kinh tế, khu vực kinh tế trong nước có chiều hướng giảm, từ 88,7% GDP trong năm 1995 xuống còn 78,9% GDP trong năm 2002. Trong khi đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng tương ướng từ 11,3% lên 21,1%, và đến năm 2006, tỷ lệ này đạt 22,1%. Ở khu vực kinh tế nhà nước cũng có sự chuyển biến rõ rệt giữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh. Nếu như năm 2001, kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng là 42,3% GDP, kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 37,1%, thì đến năm 2006, tỷ lệ này lần lượt là là 33,3% và 44,6%.

Những năm trước đây, thành phố Hồ Chí Minh luôn đứng đầu trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 1988 đến năm 2007, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài với 27,6% số dự án và 20% tổng số vốn đăng ký. Đứng thứ hai là thành phố Hà Nội với 11,6% số dự án và 14,9% tổng số vốn đăng ký. Riêng trong 7 tháng đầu năm 2008, thành phố Hồ Chí Minh xếp vị trí thứ 2, chiếm 17,7% tổng số vốn đăng ký, đứng đầu là tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chiếm 21%.

Theo quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội của thành phố đến năm 2010, một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu là duy trì tốc độ tăng trưởng của thành phố cao hơn mức trung bình của cả nước; phát triển một cách toàn diện, cân đối và bền vững về kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng gia tăng tỉ trọng khu vực dịch vụ, hướng mạnh về xuất khẩu. Dự kiến, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn này đạt khoảng 12%.

Các khu vực kinh tế

Nông lâm nghiệp

Đây là khu vực kinh tế đóng vai trò rất hạn chế trong nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh và không ngừng giảm dần qua các năm. Trong cơ cấu GDP của thành phố năm 2001, khu vực này chiếm 1,9% và đến năm 2006 giảm xuống còn 1,2%, dự kiến đến năm 2010 sẽ còn 0,8%. Tuy nhiên, giá trị sản xuất vẫn liên tục gia tăng, mặc dù tốc độ tăng trưởng không đều giữa các năm. Trong giai đoạn 1991-1995, tốc độ gia tăng trung bình đạt hơn 4,8%, trong đó nông nghiệp tăng gần 4,5%, lâm nghiệp 4,6% và ngư nghiệp 6,03%. Song, đến giai đoạn 1996-2000, tốc độ chỉ còn 0,6% và không ổn định. Theo quy hoạch của thành phố, sẽ ổn định tốc độ này ở mức 3,2% trong giai đoạn 2006-2010. Trong đó, các ngành sẽ tăng tương ứng là: nông nghiệp 1,0%, ngư nghiệp 6,86%, riêng lâm nghiệp sẽ giảm xuống còn 2,5%.

Công nghiệp - Xây dựng

Trong cơ cấu GDP của thành phố, khu vực Công nghiệp - Xây dựng đứng hàng thứ hai và tương đối ổn định qua các năm. Năm 2001 đạt 46,2%, năm 2006 đạt 47,7%. Giá trị sản xuất công nghiệp cũng không ngừng gia tăng, từ 66.930 tỷ trong năm 2001 đã tăng lên đến 132.217 tỷ vào năm 2006, chiếm 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước.

Về cơ cấu các ngành công nghiệp, theo cách phân loại của Tổng cục Thống kê, ngành công nghiệp chia thành 3 loại là: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và sản xuất - phân phối điện nước. Theo đó, năm 2006, 98% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố thuộc về công nghiệp chế biến. Hai phân ngành còn lại có tỷ trọng nhỏ hơn. Trong công nghiệp chế biến, ưu thế lại thuộc về công nghiệp chế biến thực phẩm - đồ uống và công nghiệp hoá chất - các sản phẩm hoá chất.

Bảng cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành qua các năm của thành phố Hồ Chí Minh

Các ngành công nghiệp

Tỷ lệ phần trăm qua các năm

2000 2001 2004 2005 2006
Công nghiệp khai thác 0,2 0,1 0,1 0,1 0,1
Công nghiệp chế biến 96,1 96,4 97,8 97,5 98
1 Thực phẩm và đồ uống 20,8 21,6 18,5 17,2 16,4
2 Thuốc lá 4,2 4,0 3,4 3,0 2,5
3 Dệt 6,2 5,6 5,5 5,4 5,3
4 Trang phục 6,4 5,9 7,7 7,5 7,8
5 Thuộc da, sản xuất vali, túi xách 7,4 7,3 6,6 7,3 7,5
6 Chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 1,7 1,7 1,7 1,5 1,6
7 Giấy và sản phẩm từ giấy 2,2 2,2 2,5 2,4 2,3
8 Xuất bản, in và sao bản 2,6 2,3 2,8 3,9 3,8
9 Sản xuất than, sản phẩm dầu mỏ 0,8 0,8 0,6 0,6 0,5
10 Hoá chất và các sản phẩm hoá chất 9,3 8,3 8,6 9,5 10,3
11 Sản phẩm từ cao su, plastic 6,8 6,8 8,6 8,7 9,2
12 Sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại 4,2 4,6 3,6 3,8 3,8
13 Sản xuất kim loại 2,4 2,3 3,8 2,7 2,5
14 Sản phẩm từ kim loại 5,1 5,0 5,1 6,1 6,3
15 Máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu 2,8 2,3 2,0 1,4 1,5
16 Sản xuất thiết bị văn phòng, máy tính 0,2 0,3 0,04 0,05 0,04
17 Máy móc thiết bị điện chưa được phân vào đâu 3,0 4,9 4,7 5,1 6,1
18 Radio, tivi và thiết bị truyền thông 3,6 3,7 3,2 3,3 3,3
19 Dụng cụ y tế, dụng cụ quang học, đồng hồ các loại 0,7 0,6 0,8 0,5 0,5
20 Xe có động cơ, rơ móc 1,1 1,2 2,6 1,9 1,5
21 Phương tiện vận tải khác 1,8 2,3 2,2 1,6 1,5
22 Giường, tủ, bàn ghế, các sản phẩm chưa được phân vào đâu 2,6 2,5 3,6 3,8 3,8
23 Tái chế 0,2 0,2 0,2 0,2 0,1
Sản xuất - phân phối điện nước 3,7 3,5 2,1 2,4 2,0
1 Sản xuất và phân phối điện 3,4 3,2 1,7 2,0 1,6
2 Khai thác và phân phối nước 0,3 0,3 0,4 0,4 0,4

Nguồn: Cục Thống kê thành phố: http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/so_lieu_ktxh/2006/Cong_nghiep/0415.htm

Hiện thành phố có 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp, mỗi năm thu hút hằng tỷ USD vốn đầu tư từ nước ngoài. Ba khu chế xuất (KCX) là: KCX Tân Thuận quận 7, KCX Linh Trung I và KCX Linh Trung II ở quận Thủ Đức.

Thương mại - Dịch vụ

Thương xá Tax - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Đây là khu vực kinh tế quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế của thành phố. Năm 2006, khu vực này chiếm 51,1% GDP của thành phố, bao gồm rất nhiều ngành và hoạt động khá đa dạng.

Về thương mại, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại nhộn nhịp nhất Việt Nam. Thành phố có hệ thống bán lẻ tương đối đa dạng bao gồm các trung tâm mua sắm, các siêu thị, chợ.....Trong đó, các trung tâm mua sắm cao cấp như: Saigon Trade center số 37 Tôn Đức Thắng, Diamond Plaza số 34 Lê Duẩn, Thuận Kiều Plaza 190 Hồng Bàng, Zen Plaza 54 - 56 Nguyễn Trãi, Parkson Saigon 35 Bis - 45 Lê Thánh Tôn, Parkson Hùng Vương 126 Hùng Vương, Thương xá Tax 135 Nguyễn Huệ.....phần lớn đều tập trung ở khung trung tâm thành phố như quận 1, quận 3, quận 5. Hệ thống siêu thị thì tương đối phổ cập hơn, nằm rải rác ở các quận nội thành đến vùng ven. Trong đó, mạnh nhất là hệ thống Co-op Mart của Liên hiệp hợp tác xã thương mại thành phố với hàng chục siêu thị lớn nhỏ rải đều khắp thành phố. Ngoài ra còn có các hệ thống khác như: Citmart, Maximark, Big C, Metro và các trung tâm điện máy, điện tử......Hệ thống chợ bao gồm các chợ nổi tiếng như: chợ Bến Thành, chợ Bình Tây, chợ An Đông, chợ Tân Bình, chợ Tân Định, chợ Bà Chiểu.....Trong đó, chợ Bến Thành được xem là biểu tượng của thành phố.

Ngoài lĩnh vực Thương mại, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc. Thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh là thị trường lớn nhất Việt Nam, được thành lập tháng 7-1998, có mã giao dịch là VN-Index, do Sở Giao dịch chứng khoán thành phố quản lý.

Văn hóa
 

Với hơn 300 năm lịch sử hình thành và phát triển, nếu so với bề dày lịch sử của 1000 năm Thăng Long- Đông Đô - Hà Nội và 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên-Huế thì rõ ràng, Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh còn quá trẻ. Song có thể nói, Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hoá khác nhau. Một nền văn hoá kết hợp hài hòa gữa truyền thống của người Việt với những nét đặc sắc của phương Bắc và phương Tây

Từ khi trở thành một trong những trung tâm của cả nước, Sài Gòn đã  đón nhận những ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực của văn hoá Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử. Văn hóa Sài Gòn kết tinh lại qua các công trình kiến trúc, những di tích lịch sử, trên những con đường, góc phố và trong cách sinh hoạt, đời sống của người Sài Gòn.

Truyền thông

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm truyền thông lớn của Việt Nam, thành phố có các đơn vị báo chí, xuất bản và truyền thanh truyền hình hàng đầu cả nước.

Trong lĩnh vực báo chí, theo thông tin từ Website thành phố, hiện thành phố có 113 đơn vị báo chí trực thuộc cùng với 131 văn phòng đại diện của các báo chí trung ương và các tỉnh thành khác đóng trên địa bàn. Những tờ báo này phát hành dưới các hình thức báo giấy và báo mạng. Trong đó, nhật báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên là hai tờ báo có lượng phát hành lớn nhất cả nước. Hiện hai tờ báo này phát hành dưới hai dạng báo giấy và online ở địa chỉ: www.tuoitre.com.vnwww.thanhnien.com.vn. Ngoài Tiếng Việt, một số báo ở thành phố còn phát hành bằng tiếng Anh như tờ: Saigon Times Daily, Thanhniennnews và ấn bản Sài Gon giải phóng tiếng Hoa.

Trong lĩnh vực xuất bản, thành phố có 3 nhà xuất bản lớn cùng với khoảng 21 chi nhánh các nhà xuất bản khác. Trong đó, hai nhà xuất bản (NXB) hàng đầu là NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh và NXB Trẻ, luôn có có lượng đầu sách phát hành cao trong cả nước. Theo ước tính, có khoảng 60 - 70% số lượng sách của cả nước được phát hành tại thành phố Hồ Chí Minh.

Truyền hình đã xuất hiện ở thành phố từ trước những năm 1975. Hiện nay, Đài truyền hình thành phố  - HTV là một trong những kênh truyền hình mạnh và hấp dẫn nhất ở Việt Nam. Đài có địa chỉ website tại www.htv.com.vn , hiện có 6 kênh phát sóng analogue và một số kênh phát trên hệ thống truyền hình cáp và kỹ thuật số. Trong đó, hai kênh HTV7, HTV9 phát sóng liên tục 24/24h mỗi ngày. Đài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có địa chỉ website tại www.voh.com.vn phát sóng trên phạm vi cả nước.

Thể dục - Thể thao

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong hai trung tâm thể thao hàng đầu cả nước. Tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần V năm 2006, thành phố Hồ Chí Minh đạt được 121 huy chương vàng, xếp thứ 2 toàn đoàn, sau Hà Nội. Thế mạnh của thành phố là các môn điền kinh, bơi lội, cử tạ, thường đóng góp cho quốc gia những vận động viên xuất sắc để tham gia tranh tài ở khu vực và quốc tế.

Thành phố có hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động tập luyện và thi đấu thể thao tương đối hoàn chỉnh. Sân vận động Thống Nhất là sân vận động lớn nhất thành phố, trước khi sân Mỹ Đình được xây dựng, đây từng là sân vận động lớn nhất Việt Nam, tiếp theo là sân vận động Quân khu 7 trên đường Hoàng Văn Thụ. Hai sân vận động này là nơi có thể tổ chức các môn bóng đá và điền kinh tầm cỡ quốc gia và khu vực. Nhà thi đấu Phú Thọ là công trình thể thao có kiến trúc đẹp và hoành tráng. Trường đua Phú Thọ là nơi duy nhất ở Việt Nam tổ chức đua ngựa hàng tuần. Ngoài ra, thành phố còn có các nhà thi đấu lớn khác như: Quân khu 7, Phan Đình Phùng, Tân Bình, Nguyễn Du.....Trường Đại học Thể dục Thể thao Trung Ương II đạt tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh là Trung tâm đào tạo đại học các ngành thể thao lớn ở miền Nam.

Trung tâm văn hóa giải trí

Nhà hát Hoà Bình - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Là một thành phố trẻ, năng động, hoạt động văn hoá giải trí ở thành phố Hồ Chí Minh có thể nói là sôi nổi và nhộn nhịp nhất so với bất cứ tỉnh thành nào ở Việt Nam. Thông tin từ website thành phố cho biết hiện thành phố có 22 đơn vị nghệ thuật, 9 rạp hát, chiếm 15,5% và 18,6% số lượng của cả nước, cùng với hàng chục rạp chiếu bóng lớn, các sân khấu ca nhạc lớn nhỏ khác nhau hằng đêm đều có tổ chức các buổi biểu diễn phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của người dân thành phố.

Ca nhạc: sân khấu ca nhạc Lan Anh, nhà hát Hoà Bình, nhà hát Thành Phố, nhà hát Bến Thành, sân khấu ca nhạc Trống Đồng, phòng trà M & T, phòng trà 2B Lê Duẩn, phòng trà Không Tên, phòng trà Đồng Dao, ....

Chiếu bóng: rạp Diamond Plaza, rạp Hoà Bình, rạp Tân Sơn Nhất, rạp Cao Thắng....

Kịch: sân khấu kịch IDECAF, sân khấu 135 Hai Bà Trưng, rạp Nam Quang, sân khấu kịch Phú Nhuận, sân khấu 5B Võ Văn Tần.....

Cải lương: nhà hát Trần Hữu Trang, sân khấu nhạc nước Đầm Sen là nơi tổ chức thường xuyên của chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc

Hầu hết các ca sĩ, nghệ sĩ ngôi sao của Việt Nam đều quy tụ về thành phố để tham gia hoạt động biểu diễn, theo thống kê không chính thức, có đến 90% các show ca nhạc lớn của Việt Nam đều diễn ra ở thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều hãng phim tư nhân như: Thiên Ngân, Phước Sang, Lasta, M & T Pictures, HKFilm...;nhiều công ty giải trí như: Đông Tây Promotion, Cát Tiên Sa....đều có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh. Những công ty này chuyên sản xuất phim và các chương trình giải trí cho các đài truyền hình trung ương và địa phương như: VTV, HTV, Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Long.....

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế quan trọng trong khu vực. Hệ thống giao thông của thành phố bao gồm đường ôtô, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không.

Đường Nguyễn Huệ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Đường ô tô: Thành phố nằm giữa các tuyến đường ôtô quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 22 cùng với hệ thống giao thông nội ô đang được nâng cấp và mở rộng. Hai bến xe lớn nhất thành phố là bến xe Miền Đông và bến xe Miền Tây được bố trí ở hai cửa ngõ ra vào thành phố đảm bảo nhu cầu vận tải hành khách đi các tỉnh. Phương tiện giao thông công cộng của thành phố hiện nay chủ yếu là taxi và xe buýt.

Hiện hệ thống giao thông thành phố đang chịu nhiều áp lực trước tốc độ gia tăng dân số và các phương tiện giao thông hiện nay. Tình trạng ùn tắt giao thông kéo dài thường xuyên diễn ra vào mỗi giờ cao điểm. Để giải quyết vấn đề này, thành phố đang có nhiều dự án giao thông quan trọng như: tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, Đại lộ Đông Tây, tuyến Metro Bến Thành - Suối Tiên, dự án đường trên cao....

Đường sắt: Ga Sài Gòn là điểm cuối của tuyến đường sắt Bắc Nam và cũng là một trong những nhà ga lớn của cả nước.

Đường hàng không: Sân bay Tân Sơn Nhất nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7 km về phía Bắc là sân bay lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Đường thuỷ: gồm hệ thống đường sông và đường biển.

Các tuyến đường sông gồm có hai loại: Tuyến đường sông quốc gia dài 37 km, do Trung ương quản lý, tàu 350 tấn có thể qua lại. Tuyến đường sông địa phương do thành phố quản lý, dài hơn 680 km, ghe tàu từ 2 - 200 tấn có thể qua lại dễ dàng. Để phục phụ cho các tuyến đường này, thành phố có các cảng sông  và bến tàu như: cảng Bình Đông, bến tàu Tân Thuận, Bình Lợi, Bình Phước, Tôn Thất Thuyết....với năng lực thông qua cảng khoảng 9 nghìn tấn/năm.

Tuyến đường biển tính từ cảng Sài Gòn đến phao số 0 dài khoảng 150 km. Tàu bè có thể đến và đi từ nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Hệ thống cảng biển bao gồm: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng có thể tiếp nhận tàu có vận tải đến 2,5 vạn tấn.

Tình hình vận tải

Bảng thống kê tình hình vận tải của thành phố Hồ Chí Minh

Năm

Vận tải hàng hoá

Vận tải hành khách

Khối lượng vận chuyển (nghìn tấn)Khối lượng luân chuyển (triệu tấn/km) Số lượng vận chuyển (nghìn lượt) Số lượng luân chuyển (triệu lượt/km)
1995 16.901 7.015 145.370 3.836
2000 26.455 16.055 200.725 6.882
2001 31.782 15.237 205.867 7.160
2002 33.622 18.300 212.457 8.123

Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Lê Thông chủ biên - NXB Giáo Dục 2006.

Tình hình vận tải của thành phố Hồ Chí Minh không ngừng gia tăng qua các năm. Về vận tải hàng hoá theo phương tiện, khối lượng vận chuyển nghiên hẳn về đường bộ với hơn 59% vào năm 2002, còn khối lượng luân chuyển chủ yếu thuộc về đường biển với 88,5%. Về vận tải hành khách, đường bộ chiếm 96,3% theo số lượng vận chuyển và chiếm 49,5% theo số lượng luân chuyển.

Quy hoạch đô thị
 

Thành phố Hồ Chí Minh từ khi thành lập đến nay đã có quá nhiều thay đổi về kết cấu đô thị. Ngay từ đầu, người Pháp quy hoạch thành phố Sài Gòn với quy mô khoảng 500.000 dân, theo mô hình này, Sài Gòn là thành phố của công viên và cây xanh với những khoảng đất lớn dành cho việc xây dựng các công viên. Thời Việt Nam Cộng hoà, thành phố có quy mô dân số khoảng 3 triệu người. Hiện nay, theo một số thông tin trên các phương tiện truyền thông, dân số thành phố đạt mức khoảng 8 triệu người, chưa kể thành phần nhập cư và lượng khách vãng lai. Với quy mô dân số ấy, diện tích xây dựng ngày một mở rộng, diện tích cây xanh thu hẹp dần. Thêm vào đấy, công tác quy hoạch đô thị còn nhiều yếu kém, bất cập, việc quản lý xây dựng không nghiêm đã đẩy thành phố vào hiện trạng xây dựng tràn lan, không theo quy hoạch. Quy hoạch các công trình ngầm vẫn chưa hoàn chỉnh. Thành phố không có bản đồ các công trình ngầm. Nhiều khu vực nội thành đường xá trở nên quá chật chội, nhà cửa lô nhô, chỗ cao chỗ thấp, hẻm dọc hẻm ngang, vỉa hè bị lấn chiếm, trên cao dây điện giăng mắc chằng chịt....gây mất mỹ quan đô thị. Hiện thành phố đang rất cần một đề án quy hoạch tổng thể và hoàn chỉnh.

Trong những năm gần đây, với sự đầu tư của các công ty nước ngoài, nhiều khu đô thị mới ở thành phố được xây dựng. Trong đó, tiêu biểu nhất là khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Trong tương lai, thành phố sẽ hình thành khu đô thị mới Thủ Thiêm, dự kiến đây sẽ là khu trung tâm mới của thành phố nằm bên bờ Đông sông Sài Gòn.


thành phố Hồ Chí Minh

Vùng đất Sài Gòn - Gia Định đã hình hành và phát triển được hơn 300 năm. Công cuộc khai hoang mở cõi vào vùng đất phía Nam, trong đó có Sài Gòn được bắt đầu từ thời các chúa Nguyễn. Lúc bấy giờ, đây là một vùng đất hoang sơ, rừng cây rậm rạp, dân cư thưa thớt... Năm 1698, chúa Nguyễn sai thống soái Nguyễn Hữu Cảnh kinh lí miền đất phía Nam, gồm vùng đất Biên Hoà và Gia Định. Dải đất Biên Hoà ngày nay, xưa còn có tên là dinh Trấn Biên. Còn Gia Định xưa thì bao gồm cả vùng Sài Gòn - Chợ Lớn ngày nay còn có tên là Phiên Trấn. Sau đó, Phiên Trấn được tách ra thành Gia Định và Tân Bình. Cũng từ lúc này, những người lưu dân đến đây sinh sống nhiều hơn và cuộc sống có phần sung túc hơn.

Khu trung tâm thành phố - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Dù là một vùng đất mới được khai phá nhưng Sài Gòn đã trở thành một trung tâm thương mại, một đô thị lớn của miền Nam nói riêng và cả nước nói chung.

Sau khi Pháp chiếm được Gia Định. Sài Gòn trở thành trung tâm cai trị của Pháp cả về kinh tế lẫn chính trị ở vùng đất Nam Kì. Người Pháp đã phác hoạ bản đồ qui hoạch Sài Gòn theo phương án của một thành phố 500 ngàn dân. Ngày 11/04/1861, Đô đốc Charnar đã kí Nghị định xây dựng thành phố Sài Gòn theo đồ án đã định. Theo đó, Sài Gòn cũng được chia thành ba phủ và mang dáng dấp của một đô thị phương Tây. Đường phố Sài Gòn bắt đầu xuất hiện các giao lộ, các dãy nhà cao tầng, quảng trường, bến cảng, công viên.

Do vị trí thuận lợi nên Sài Gòn trở thành điểm dừng chân lí tưởng của những thương nhân đến từ nhiều nước trên thế giới. Cảng Sài Gòn trở thành một điểm trung chuyển, mua bán sầm uất. Các địa danh nổi tiếng của Sài Gòn dần trở nên quen thuộc với thương nhân và du khách nước ngoài như chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Kho, chợ Bến Thành, Bến Nghé... Sài Gòn ngày càng trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước và được tôn vinh là Hòn ngọc Viễn Đông.

Ngày 30/04/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất. Ngày 02/07/1975, Sài Gòn được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng, tên gọi Sài Gòn vẫn tồn tại song song trong lòng du khách nước ngoài cũng như người dân thành phố.

Sài Gòn, lúc này được gọi là thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm du lịch lớn nhất Việt Nam. Thành phố hội tụ hàng loạt thế mạnh về địa lý, tài nguyên du lịch nhân văn, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Hiện trên địa bàn thành phố có khoảng 400 di tích, trong đó có 45 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia, nhiều bảo tàng và các công trình kiến trúc văn hoá, tôn giáo có giá trị cao. Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai là những nơi có thể khai thác du lịch sinh thái, hiện đã được các doanh nghiệp ở thành phố đưa vào khai thác hiệu quả.

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đầu mối giao thông cho cả miền Nam với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không phát triển. Sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất nước có đường bay đến tất cả các sân bay trong nước và đến hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện có 26 hãng hàng không quốc tế đã đến Tân Sơn Nhất. Thành phố cũng là nơi có nhiều kênh rạch chằng chịt nối liền với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng lân cận trong đó, đặc biệt là cảng Sài Gòn là một cảng lớn có nhiều tàu bè quốc tế liên tục ra vào.

Thảo Cầm Viên Sài Gòn - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thời tiết thành phố Hồ Chí Minh thích hợp cho việc du lịch vì không có mùa đông lạnh. Tuy nhiên, thời gian du lịch tốt nhất là vào từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Đây là thời gian vùng đất này có nhiều lễ hội cũng như thời tiết mát mẻ, các trung tâm du lịch, các điểm đến được trang hoàng, chuẩn bị chu đáo hơn để chào đón năm mới.

Các kiến trúc của Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông xưa được giữ gìn và tôn tạo, trở thành những điểm tham quan lý thú. Bên cạnh đó là những công trình hiện đại phát huy từ cảm hứng trong kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ở nơi đất hẹp người đông này, du khách sẽ bất ngờ với những đại lộ rợp bóng cổ thụ trăm năm, những công viên rộng rực rỡ hoa lá, những khu biệt thự thanh bình. Bên cạnh những tòa cao ốc mới ở trung tâm thành phố, du khách sẽ có dịp ghé thăm Chợ Lớn của người Hoa với những khu phố cổ nhộn nhịp cùng với những hoạt động thương mại và sản xuất.

Khi đến thăm thành phố Hồ Chí Minh, du khách không nên bỏ qua các địa danh như: Nhà thờ Đức Bà, Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh, Dinh Thống Nhất, Bảo tàng chứng tích chiến tranh, chùa Xá Lợi, chợ Bến Thành, Bảo tàng lịch sử, Thảo Cầm Viên, lăng Lê Văn Duyệt...

Lưu trú

Thành phố Hồ Chí Minh cũng đồng thời là một thành phố có cơ sở hạ tầng phát triển đầy đủ và toàn diện nhất nước nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế của vùng. Đến đây, du khách có thể tìm thấy những khách sạn, nơi lưu trú sang trọng bậc nhất theo tiêu chuẩn thế giới hay những nhà nghỉ giá cả phải chăng phục vụ nhu cầu du lịch, nghỉ ngơi của mọi đối tượng.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 641 khách sạn với 17.646 phòng. Hệ thống khách sạn bao gồm từ những khách sạn cao cấp do các tập đoàn quốc tế hàng đầu như Accor, Furama, Mariot hay Shareton quản lý. Các khách sạn này đã có quá trình hoạt động cả trăm năm, những dịch vụ ở đây được các vị nguyên thủ quốc gia, các doanh nhân tầm cỡ khen ngợi, được các tổ chức quốc tế về du lịch trao tặng nhiều giải thưởng và danh hiệu về chất lượng cao. Bên cạnh đó, thành phố cũng có nhiều khách sạn bình dân đáp ứng nhiều nhu cầu linh động và đa dạng của du khách.

Phần lớn các khách sạn đều chiếm những vị trí đẹp nhất trong trung tâm thành phố, gần các khu thương mại, cận kề sân bay, nhà ga, bến xe… Và đặc điểm chính là các khách sạn đều có tính chuyên nghiệp cao, từ cơ sở vật chất và trang thiết bị cho đến các dịch vụ và phong cách phục vụ. Mỗi khách sạn thường lựa chọn cho mình một ấn tượng riêng: Caravelle là khách sạn thương nhân tuyệt hảo, Rex là "Ngôi nhà Việt Nam", Majestic với vẻ thanh lịch cổ điển phương Tây, Bông Sen gây ấn tượng bằng ẩm thực "buffet gánh", Đệ Nhất nổi tiếng với dịch vụ tiệc cưới… Ngay những khách sạn nhỏ cũng tạo phong cách như sự phục vụ tận tâm, thân tình như trong gia đình, hay những dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu nho nhỏ của khách.

Hệ thống nhà hàng, khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao như: New World Hotel Saigon, Caravelle Hotel, Windsor Plaza Hotel, Equatorial Hotel, Legend Hotel Saigon, Renaissance Riverside Hotel Saigon, Sheraton Saigon Hotel & Tower, Sofitel Plaza Saigon Hotel. Nếu chỉ muốn lưu trú, nghỉ ngơi ở những khách sạn bậc trung thì có thể đến với Nhà khách 70, khách sạn Hồng Kông, khách sạn Hạnh Hoa, nhà khách 211, khách sạn Kim Kim, khách sạn Lan Anh ... ở khu vực trung tâm thành phố. Một số nhà nghỉ bình dân cũng sẵn sàng đón tiếp du khách muốn ở lại tham quan thành phố dài ngày hay chỉ lưu trú vài giờ. Nhiều công ty du lịch nổi tiếng như: Saigontourist, Cholon tourist, Viettravel, Công ty dã ngoại Lửa Việt....thường xuyên tổ chức các tour du lịch đưa du khách trong nước và quốc tế đến thăm thành phố. Toàn thành phố có hơn 100 công ty lữ hành quốc tế đón khách từ nước ngoài vào du lịch Việt Nam và đưa khách Việt Nam ra du lịch nước ngoài cùng với khoảng 200 công ty lữ hành nội địa chuyên phục vụ khách trong nước. Các công ty lữ hành tổ chức tour trọn gói hoặc tour từng phần, bao gồm các tour trong thành phố, tour đến mọi miền đất nước, cho thuê hướng dẫn viên, thuê xe, đặt phòng khách sạn, mua vé máy bay, gia hạn visa… cho đến những dịch vụ rất nhỏ như giúp làm thủ tục sân bay, đưa khách cùng hành lý từ trong sân bay ra bên ngoài… Đặc điểm nổi bật của các công ty lữ hành là tính sáng tạo, không ngừng đưa vào chương trình tour những điểm mới cũng như những dịch vụ mới. Bên cạnh các tour truyền thống, còn có những loại hình phục vụ sở thích và nhu cầu đa dạng của du khách: Tour dã ngoại dành cho giới thanh niên yêu thích mạo hiểm, tour nghiên cứu học tập cho học sinh, tour báo hiếu là quà tặng của con cái dành cho cha mẹ, tour trăng mật cho những đôi vợ chồng mới cưới, tour hành hương, tour leo núi, tour xuyên Việt bằng xe gắn máy, tour du lịch kết hợp nghiên cứu thị trường, tour du lịch kết hợp công tác xã hội… Và tất nhiên, các công ty cũng sẵn sàng tổ chức tour theo yêu cầu cụ thể của khách.

Đặc sản - Dịch vụ ăn uống

Thành phố Hồ Chí Minh không có đặc sản vì đây là nơi tập trung hầu hết tất cả những thức ngon vật lạ khắp mọi miền đất nước. Du khách có thể thưởng thức món phở Hà Nội đậm hương vị đặc trưng, mì Quảng nổi tiếng, bún bò Huế cay nồng ... hay những món ăn Âu, Á khác. Cũng không quá khó khăn nếu du khách muốn thưởng thức cam Xã Đoài, bưởi Tân Triều, xoài cát Hoà Lộc, sầu riêng Cái Mơn, măng cục Lái Thiêu ... ngay tại thành phố. Với nhu cầu ăn uống, thưởng thức các món ăn khắp mọi vùng miền của đất nước Việt Nam, du khách có thể lưu ý đến những địa chỉ món ăn miền Bắc như: phở Hoà, phở Tàu Bay, phở Quyền, phở Hương Bình, phở Như Ý, bún chả Hàng Mành Ánh Hồng, bún chả Hà Nội, bún chả Xuân Tứ, chả cá Lã Vọng, bún riêu ốc Thanh Hải, bún ốc Thanh Nga, cơm Bắc Bà Cả, cơm Bắc Hoàn Kiếm, cơm Bắc Dáng Xưa... Với các món ăn miền Trung, du khách có thể tìm đến các địa chỉ Bún Bò Đông Ba, nhà hàng Món Huế, quán Bà Dạng, bánh bèo Vĩ Dạ, nhà hàng Cung Đình... Với các món ăn miền Nam, du khách có thể dễ dàng lựa chọn các địa chỉ quen thuộc như Khu Du lịch Bình Quới 1, Làng nướng Miền Nam, làng nướng Nam Bộ, lẩu cá kèo 87, Quán Sóc Trăng, lẩu dê 304, Lẩu bò Trương Định...

Nhà hàng Santan Lucia - Ảnh: AA Cooperation

Ngoài ra, như đã đề cập bên trên, Sài Gòn còn là điểm đến của nhiều khách quốc tế. Đó cũng là lí do giải thích cho những quán ăn mang hương vị ẩm thực các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ. Sau đây là một vài địa chỉ để du khách có thể tham khảo.

- Món ăn Trung Hoa: nhà hàng Miss Sài Gòn (86 Bis Lê Thánh Tôn, Q1), nhà hàng Hoằng Long (11 - 13 Công trường Lam Sơn, Q1), nhà hàng Chen Shabu (56 - 58 Hai Bà Trưng, Q1), quán Đại Dương (14 Cao Thắng, P5, Q3)... và một số quán ăn ở khu vực Chợ Lớn.

- Món ăn Nhật Bản: Nhà hàng Ren (20 Lê Thánh Tôn, Q1), nhà hàng Sushi (02 Lê Thánh Tôn, Q1), Un restaurant (42 Lê Thánh Tôn, Q1), nhà hàng Sky View (34 Lê Duẩn, Q1), nhà hàng Akatonbo (38 Hai Bà Trưng, Q1), nhà hàng Daruma (75 Pasteur, Q1), nhà hàng  Doremon (50 Đông Du, Q1), nhà hàng Hakata (26 Thi Sách, Q1), nhà hàng Sushi Hoả Xa (04 Nguyễn Huệ, Q1) ... và một số quán Nhật trên đường Lê Thánh Tôn, Hai Bà Trưng...

- Món ăn Ý: Nhà hàng Santa Lucia (14 Nguyễn Huệ, Q1), nhà hàng Ritorance Venezia (132 Đồng Khởi, Q1), Nhà hàng Good Morning (197 Đề Thám, Q1)...

- Món ăn Pháp: Nhà hàng Sao Mai (35 Đông Du, Q1), nhà hàng La Fourchette (9 Ngô Đức Kế, Q1), nhà hàng Bi Bi (8A/8D2 Thái Văn Lung, Q1)...

- Món ăn Thái: nhà hàng Chao Thai (16 Thái Văn Lung, Q1), Sai Gon ThaiShark'sfin (18 Mạc Thị Bưởi, Q1), nhà hàng Spice (100A Nguyễn Thị Minh Khai, Q1), nhà hàng Allez-Boo (187 Phạm Ngũ Lão),...

- Món ăn Hàn Quốc: nhà hàng Dea Chankum, nhà hàng Han iL Kwan (19 Ngô Văn Năm, Q1), nhà hàng Seoul house (37 Ngô Đức Kế, Q1), nhà hàng Han Gang (6B Thi Sách, Q1) và các quán trên khu phố Hàn (đường Hậu Giang, Q. Tân Bình)...

- Món ăn Ấn Độ: Nhà hàng Alibaba (60 Lê Thánh Tôn, Q1), nhà hàng Mosque(66 Đông Du, Q1), nhà hàng Ashoka (17A/10 Lê Thánh Tôn, Q1)...

Và Sài Gòn còn nổi tiếng với những quán cafe. Dường như người Sài Gòn có thói quen và sở thích uống cafe nên dạo khắp thành phố, du khách có thể tìm thấy rất nhiều những quán cafe đủ mọi phong cách, đặc trưng. Người Sài Gòn uống cafe không chỉ để thưởng thức hương vị của loại nước giải khát đặc biệt này mà còn để thư giãn, để tận hưởng những phút riêng tư hay đơn giản chỉ là để giết thời gian. Kiểu cafe bình dân nhất ở Sài Gòn có thể kể là cafe vỉa hè, còn được gọi là cafe cóc. Loại quán này thường nằm ở cac khu dân cư, đông người lao động. Người uống cafe có thể đọc báo, tán gẫu, trao đổi tin tức cùng nhau... Giá của những quán cafe này khá rẻ, chỉ từ 4000 - 8000 đồng/ ly.

Quán cafe Thuỷ Trúc - Ảnh: Canlaco

Cũng một loại hình cafe vỉa hè nhưng quán cafe vỉa hè sang trọng dọc theo các con phố trung tâm, bên dưới những toà cao ốc sang trọng vào bậc nhất thành phố thì lại khác. Không khí ở đây sang trọng hơn, phong cách phục vụ chuyên nghiệp hơn và khách hàng thường là những du khách nước ngoài và các doanh nhân. Họ đến đây trò chuyện và ngắm thành phố. Nếu muốn thưởng thức cafe ở những quán này, bạn có thể đến các toà nhà như Diamond Plaza, Saigon Trade Center, toà nhà HSBC... Giá nước uống ở đây dao động từ 50.000 - 100.000 đồng.

Một loại hình cafe phổ biến ở Sài Gòn nữa là cafe sân vườn. Đây là một loại hình quán lí tưởng cho mọi người dân. Mọi người, có thể là người dân thành phố, là du khách trong và ngoài nước thường đến quán để thư giãn. Không gian trong những quán này thường rộng rãi, được bài trí lịch sự, có nhiều cây xanh. Các quán có thể kể tên như là cà phê Vô Thường (236/1 Lê Văn Sĩ, Tân Bình), cà phê Chợt Nhớ (189 Nguyễn Văn Trỗi, Phú Nhuận), cà phê Thuỷ Trúc (212/4 Đinh Bộ Lĩnh, Bình Thạnh). Ngoài ra, một số quán cà phê máy lạnh nhưng khung cảnh lãng mạn, nhạc trữ tình cũng được nhiều du khách ưa thích như cà phê Cát Đằng (62 Trần Quang Khải, Q1), cà phê Window's (43 Nguyễn Đình Chiểu, Q1), cà phê Yesterday (35A Nguyễn Đình Chiểu, Q1),... Giá thức uống của các quán này thường khoảng 20.000 - 30.000 đồng/ly.

Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ phong phú với các thắng cảnh du lịch, vui chơi, giải trí. Đây còn là một trung tâm mua sắm sầm uất, nhộn nhịp với tất cả các mặt hàng. Du khách trong và ngoài nước đến tham quan thành phố Hồ Chí Minh, dù tự túc hay đi theo tour, đều thường được giới thiệu đến mua sắm tại các chợ Bến Thành, chợ An Đông, chợ Kim Biên, chợ Bình Tây... hay các khu phố mua sắm ở trung tâm thành phố như Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hàm Nghi...

Thành phố Hồ Chí Minh luôn chào đón du khách trong và ngoài nước đến tham quan, mua sắm và luôn luôn tự đổi mới mình để trở thành một điểm đến thân thiện, thu hút mọi người.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt