<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Thành phố Hà Nội

Hà Nội (河內) là thủ đô của Việt Nam. Đây là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch của cả nước và được xem như trái tim của đất nước ngàn năm văn hiến với lịch sử hình thành từ năm 1010 (triều đại nhà Lý – Lý Thái Tổ)

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lí

Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong khoảng từ 20025' - 21023'B, 105015' - 106003'Đ. Phía Bắc giáp Thái NguyênVĩnh Phúc; phía Nam giáp Hà NamHòa Bình; phía Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc NinhHưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ.

Địa hình

Hà Nội bao gồm hai loại địa hình đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Phần đồng bằng theo hai bờ sông Hồng và chi lưu (sông Ðuống, sông Ðáy...) là chủ yếu. Phần trung du gồm huyện Sóc Sơn và một phần huyện Ðông Anh, kéo dài về phía đồng bằng của núi Tam Ðảo, có độ cao từ 7-10m đến vài trăm mét so với mực nước biển. Vì vậy địa hình Hà Nội có độ nghiêng theo hướng Bắc Nam (từ Sóc Sơn - Ðông Anh về Thanh Trì).

Hà Nội có dãy Sóc Sơn (núi Sóc) là sự kéo dài của khối Tam Ðảo, với ngọn cao nhất là 308m. Núi này có các tên gọi khác nhau như núi Mã, núi Ðền (vì đỉnh núi có đền Sóc, tương truyền là nơi Thánh Gióng thăng hoá cùng với ngựa sắt về trời), núi Vệ Linh. Núi Sóc tọa lạc tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Ngoài núi Sóc, Hà Nội còn có một số đồi núi khác đột khởi lên giữa đất bằng như núi Sái (xã Thuỵ Lâm, huyện Ðông Anh), núi Phục Tượng (xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm), và ở trung tâm Hà Nội, thuộc vùng Bách Thảo có núi Nùng, còn gọi là Long Ðỗ hay núi Khán, tạo nên dáng vẻ cho thế đất Thăng Long xưa. Núi cao nhất là dãy Ba Vì với độ cao trên 700m.

Địa chất

Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình cơ bản là đồng bằng. Trừ huyện Ba Vì có địa hình đồi núi, các huyện Sóc Sơn, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, thị xã Sơn Tây và một phần huyện Đông Anh có địa hình gò đồi. Ở Hà Nội có nhiều điểm trũng. Việc đắp đê ngăn lũ sông Hồng từ cách đây hàng trăm năm dẫn tới việc các điểm trũng do sông Hồng không tiếp tục được phù sa bồi lấp và như vậy nền đất vẫn trũng cho đến tận ngày nay. Trong khi đó, ở Sóc Sơn vẫn còn những điểm trũng xen kẽ với gò đồi.

Hà Nội còn có nhiều ao, hồ, đầm là vết tích của con sông Hồng trước đây đã chảy qua. Ở huyện Thanh Trì và Hoàng Mai có nhiều hồ lớn và nông, trong đó có hồ Linh Đàm và hồ Yên Sở. Có lẽ tên huyện Thanh Trì (青池 - ao xanh) được gọi do vùng có nhiều ao hồ, nước trong xanh quanh năm. Trước khi đắp đê, sông Hồng hay đổi dòng chảy, khiến cho một số đoạn sông bị cắt riêng ra thành hồ lớn và sâu. Tiêu biểu cho loại hồ này là Hồ Tây. Hồ Hoàn Kiếm cũng từng là một hồ rất rộng, nhưng thời thuộc Pháp đã bị lấp tới hơn một nửa. Các hồ Giảng Võ, hồ Ngọc Khánh, hồ Thủ Lệ trước kia thông nhau, nay bị lấp nhiều chỗ và bị chia cắt thành các hồ riêng biệt.

Một thoáng hồ Tây - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Sông ngòi

Hà Nội nằm ở trung tâm của tam giác dòng chảy sông Hồng. Sông Hồng dài 1.183km bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy xuống. Ðoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 40km từ huyện Ðông Anh đến hết huyện Thanh Trì. Sông Ðuống là con sông lớn thứ hai của Hà Nội, tách ra khỏi sông Hồng từ ngã ba Xuân Canh (xã Xuân Canh, Ðông Anh) rồi qua phường Ngọc Thuỵ, xã Yên Thường, cắt quốc lộ 1A ở Cầu Ðuống, qua đất Gia Lâm 17km rồi sang đất Bắc Ninh đổ vào sông Thái Bình.

Ngoài hai con sông lớn đó, đất Hà Nội có nhiều dòng chảy khác, tuy nhỏ và ngắn song gắn chặt với lịch sử lâu đời của Hà Nội. Ðó là sông Tô Lịch, gắn với sự hình thành của Hà Nội từ hơn 1.500 năm trước. Dòng chảy cũ liền với sông Hồng ở đầu phố chợ Gạo đã bị lấp từ đầu thế kỷ 20, nay chỉ còn đoạn chảy giữa phố Thuỵ Khuê - Hoàng Hoa Thám, lên đến chợ Bưởi, rồi chảy ngoặt về phía Nam Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, xuôi về Cầu Bươu, hợp với sông Nhuệ, sông Thiên Ðức, sông Nghĩa Trụ, sông Cheo Reo, Ngũ Huyện Giang, sông Kim Ngưu...

Các sông ở Hà Nội đa số bị tình trạng lấn chiếm, đổ phế thải hai bên bờ, cũng như bùn đất theo nước thải chảy xuống làm cho hẹp lại và nông. Hiện Hà Nội đang thực hiện các dự án "xanh hóa" các con sông của mình với các biện pháp như kè bờ, nạo vét, xây dựng hệ thống lọc nước thải trước khi đổ xuống sông.

Khí hậu

Hà Nội có khí hậu tiêu biểu cho khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm của đai khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Do nằm trong vùng đai khí hậu nhiệt đới nên quanh năm, Hà Nội được tiếp nhận một lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6oC. Do chịu ảnh hưởng của biển cũng như hệ thống sông ngòi, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa. Nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2oC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông, thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) nên có thể nói rằng Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Bốn mùa thay đổi như vậy đã làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay. Mùa tham quan tốt nhất ở Hà Nội là mùa thu, rất thích hợp với du khách ở những vùng khí hậu hàn đới.

Du lịch
 

Cảnh quan

Hà Nội là vùng đất lịch sử, văn hóa, đã phát triển qua một thời gian dài. Cùng với những thuận lợi đó, kiến tạo địa lí đã tạo cho Hà Nội những cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phong phú. Vùng đất này có nhiều ao hồ, sông suối, gắn liền với nhiều truyền thuyết, huyền thoại thú vị, thu hút nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu.

Di tích, danh thắng

Hà Nội là một trung tâm văn hoá của cả nước với hàng trăm danh thắng, hàng ngàn di tích. Nhắc đến Hà Nội, bất kì ai cũng nghĩ đến một vùng đất văn vật, thanh lịch với những di sản văn hoá vật chất và phi vật chất tồn tại hàng trăm năm.

Chùa Trấn Quốc nhìn từ phía Hồ Tây  - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Hà Nội là vùng đất của những đền, chùa, miếu. Những ngôi chùa ở đây không chỉ thu hút khách thập phương đến hành hương, lễ Phật mà còn là những di tích đậm chất tâm linh, thể hiện sâu sắc đời sống tinh thần của người dân như Chùa Nga My, Chùa Bà Tấm, Chùa Bồ Đề, Chùa Bộc, Chùa Chân Tiên, chùa Hà, Chùa Láng, Chùa Kim Liên, Chùa Ngũ Xã, Chùa Ngọc Hồ, Chùa Quán Sứ, Chùa Bà Đá, Chùa Hòe Nhai, Chùa Một Cột, Chùa Trấn Quốc, Chùa Kim Sơn, Chùa Bút Tháp, Chùa Vua, Chùa Hưng Ký, Chùa Nành, Chùa Tự Khoát ...

Ngoài ra, Hà Nội còn là nơi lưu giữ nhiều công trình kiến trúc đặc sắc như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu Di tích - Bảo tàng Bác Hồ, Đình Triều Khúc, Đền Voi Phục, Đình Nam Đồng, Đền Hai Bà Trưng, Đình Vẽ, Đình Quảng Bá, Đền Quán Thánh, Đền Bích Câu, Thành Cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Nhà thờ Lớn Hà Nội, Thành cổ Thăng Long - Hà Nội, Tháp Hòa Phong, Gò Đống Đa, Các Di tích về Phù Đổng Thiên Vương, Lăng Phùng Hưng, Di tích Ngọc Hồi, Cửa Ô Quan Chưởng, Đền Ngọc Sơn, Tượng và Đền vua Lê, Tháp Rùa, Đền Bà Kiệu, Đền Lý Quốc Sư, Y Miếu, Phủ Tây Hồ, Đình Trèm, Đình Thổ Quan, Đình Mai Động, Đình Lệ Mật, Đình Thanh Liệt, Đình Vĩnh Ninh, Nhà sàn Bác Hồ.

Sau khi sáp nhập với Hà Tây, Hà Nội còn có thêm một số địa danh du lịch của Hà Tây cũ như Vườn quốc gia Ba Vì, ao Vua, Khoang Xanh, suối Hai, Đồng Mô, Thiên Sơn - Suối Ngà, Suối Ngọc - Vua Bà, Bằng Tạ, Đầm Long, Quan Sơn, Đồng Xương, Văn Sơn, lăng Ngô Quyền, lăng Phùng Hưng, thành cổ Sơn Tây, lễ hội Chử Đồng Tử, chùa Hương...

Hà Nội cũng là một địa danh nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống. Chỉ cần một tour du lịch làng nghề ven sông Hồng, du khách có thể tham quan nhiều nơi như làng gốm Bát Tràng, làng Cót nổi tiếng với nghề làm vàng mã, làng hoa Hà Nội, làng đúc đồng Ngũ Xã, làng bún Phú Đô, làng Vòng với đặc sản cốm nổi tiếng, làng Yên Phụ làm hương (nhang)... và hơn 200 làng nghề của Hà Tây cũ như làng lụa Vạn Phúc, sơn mài Duyên Thái, tiện gỗ Nhị Khê, thêu Quất Động, nón làng Chuông, quạt làng Vác, khảm trai Chuyên Mỹ... Tất cả tạo cho du lịch Hà Nội một nét riêng mà không nơi nào có được.

Lễ hội

Hà Nội cũng là vùng đất của những lễ hội. Vào những dịp đầu xuân, các vùng miền, đình làng tưng bừng với các lễ hội truyền thống, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham dự. Mỗi lễ hội của Hà Nội mang một dáng vẻ riêng, thể hiện chiều sâu của văn hoá, ứng xử và quan niệm sống của người Việt từ bao đời nay. Các lễ hội có thể kể như Lễ hội Thánh Gióng, Lễ hội Triều Khúc, Lễ hội Quang Trung, Hội đền bà Tấm, Hội đền Trèm, Hội đền Hai Bà Trưng, Hội đền An Dương Vương, Hội Đồng Nhân, Hội Láng, Hội năm Làng Mọc, Hội đình Giàn, Hội Bơi Đăm, Hội thổi cơm thi làng Thị Cấm, Hội bơi cạn và bắt chạch làng Hồ, Hội chạy cờ làng Đơ Thao, Hội trình nghề Sài Đồng, Hội làng Lệ Mật, Hội trận làng Gióng, Hội phù Thánh Gióng, Hội đền Sóc, Hội phết Đông Đồ, Hội Cổ Loa, Hội rước vua sống ở làng Nhội.

Ẩm thực, đặc sản

Bún Thang

Cốm Vòng

Bánh cuốn Thanh Trì

Chả cá Lã Vọng

Phở Hà Nội

Bánh Tôm Hồ Tây

Hành chính
 

Hiện tại, Hà Nội có 29 đơn vị hành chính cấp huyện , gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã. 10 quận gồm : Quận Ba Đình, quận Cầu Giấy, quận Đống Đa, quận Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, quận Hoàng Mai, quận Long Biên, quận Tây Hồ, quận Thanh Xuân, quận Hà Đông. 18 huyện gồm Huyện Ba Vì, huyện Chương Mỹ, huyện Đan Phượng, huyện Đông Anh, huyện Gia Lâm, huyện Hoài Đức, huyện Mê Linh, huyện Mỹ Đức, huyện Phú Xuyên, huyện Phúc Thọ, huyện Quốc Oai, huyện Sóc Sơn, huyện Thạch Thất, huyện Thanh Oai, huyện Thanh Trì, huyện Thường Tín, huyện Từ Liêm, huyện Ứng Hòa. 1 thị xã là thị xã Sơn Tây. Toàn thành phố 577 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn.

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Từ ngày Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, vùng đất này càng ngày càng phát triển, chứng minh vai trò, vị trí trung tâm của mình qua bao thời kì, bao biến đổi, thăng trầm. Chiếu dời đô có nói về vị trí của Hà Nội : "Thành Đại La (Hà Nội ngày nay - BTV) ở vào nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây, lại tiện đường nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi bậc nhất của các bậc đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở". Như vậy, từ những năm đầu của thế kỉ 11, từ những triều đại đầu tiên của lịch sử dân tộc, Thăng Long - Hà Nội đã luôn là một địa thế vững chãi cho sự hình thành và xây dựng đất nước.

Thời kì tiền Thăng Long

Khảo cổ học đã tìm thấy những dấu vết của người Hà Nội cổ qua những viên đá cuội ở xã Cổ Loa có niên đại từ 2 vạn đến hơn 1 vạn năm, thuộc giai đoạn văn hoá Sơn Vi. Trải qua những kiến tạo tự nhiên của vỏ trái đất, vùng Hà Nội cổ đã từng là vùng ngập nước, có rừng xen kẽ những dải đất cao (cách ngày nay khoảng từ 1 vạn đến 6 - 7 nghìn năm). Song, ngay từ thời kỳ đó đã có sự tồn tại của nhiều nhóm người cổ sinh sống. Các cuộc khai quật khảo cổ học đã cho thấy nhiều lớp văn hoá nối tiếp nhau, hình thành một chuỗi dây lịch sử liên tục từ đầu Thời đại đồ đồng đến đầu Thời đại đồ sắt trên chặng đường 20 thế kỷ trước Công nguyên.

Cư dân Hà Nội cổ sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn và chài lưới đánh cá. Tại các di chỉ khảo cổ đã tìm thấy nhiều rìu, lưỡi cày, liềm bằng đồng, hạt na, hạt trám, hạt gạo cháy và vỏ trấu, hòn chì lưới bằng đá và đất nung. Đặc biệt là số lượng mũi tên đồng được tìm thấy khá nhiều. Đây là các hiện vật thuộc thời đại Hùng Vương với sự hình thành của nhà nước đầu tiên : Nhà nước Văn Lang.

Khoảng năm 218 trước Công nguyên, Tần Thuỷ Hoàng phái 50 vạn quân tiến đánh miền Bách Việt. Đây cũng chính là thời điểm diễn ra sự hợp nhất giữa hai tộc người Tây Âu của Thục Phán và Lạc Việt của Hùng Vương để làm thành một khối thống nhất. Sau khi quân Tần rút, Thục Phán lên ngôi vua lấy hiệu An Dương Vương, đặt quốc hiệu Âu Lạc, định đô tại Cổ Loa, xây toà thành ốc. Hà Nội với toà thành đó bắt đầu đi vào lịch sử với tư cách một trung tâm chính trị, xã hội đầu tiên của đất nước.

Lên ngôi từ năm 208 đến năm 179 trước công nguyên, Thục Phán bị Triệu Đà dùng mưu gian đánh bại. Từ đó, nước Âu Lạc bị sa vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc và bị chia thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Hà Nội thuộc quận Giao Chỉ, về sau là trung tâm huyện Tống Bình (khoảng 454 - 456). Huyện Tống Bình sau đổi thành quận, quận Tống Bình gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài, Từ Ninh (Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay) và Xương Quốc (Đông Anh, Gia Lâm ngày nay). Quận trị chính là vùng nội thành ngày nay.

Kể từ thời Thục Phán An Dương Vương đến thời Lý, đất nước đã trải qua hơn một ngàn năm binh lửa anh dũng chống phong kiến phương Bắc và đã không ít lần giành lại quyền độc lập tự chủ: đó là giai đoạn của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền... Trong suốt thời gian đó, đã hơn một lần vùng đất Hà Nội cổ trở thành thủ phủ của chính quyền trung ương. Năm 545, Lý Bí (còn có tên khác là Lý Bý, Lý Bôn, Lý Phần) khởi nghĩa, dựng thành ở cửa sông Tô Lịch đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, xưng Đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (vị trí thành phố Bắc Ninh ngày nay). Hiện nay, tại làng Vĩnh Tuy thuộc huyện Thanh Trì - Hà Nội còn một khu đầm có tên là đầm Vạn Xoan (do đọc chệch từ Vạn Xuân), rất có thể đây là nơi Lý Nam Đế thiết lập bộ chỉ huy quân sự của nhà nước Vạn Xuân. Năm 1962, các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy một tấm bia tại đầm Vạn Xoan có niên hiệu nhà Lương, nghĩa là tương đương với thời tiền Lý.

Sau công cuộc hưng binh khởi nghĩa dựng đô của Lý Nam Đế thất bại, đất nước ta nói chung và quận trị Tống Bình (Hà Nội cổ) nói riêng lại lệ thuộc phong kiến phương Bắc và trở thành phủ trị đô hộ của chúng: Năm 621, Tử Thành được dựng lên ở đây với chu vi 900 bộ; Năm 767 dưới thời nhà Đường, thành được mở rộng để phục vụ cho mục đích quân sự gồm 10 dinh, chia làm hai bên tả hữu, xung quanh có tường thành bao bọc gọi là La Thành. Năm 808, để đối phó với các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta, viên đô hộ sứ Trương Chu cho sửa đắp lại La Thành to lớn hơn gọi là Đại La Thành. Năm 866, Cao Biền cho xây lại thành và đắp thêm Đại La Thành. Từ đó Tống Bình được gọi với cái tên thành Đại La. Tuy nhiên đó chỉ là thành luỹ có tính chất quân sự để bảo vệ cơ quan hành chính của bọn xâm lược chứ chưa phải là thành thị với đầy đủ mọi mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá của mọi tầng lớp trong xã hội.

Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Năm 939, ông lên ngôi, Cổ Loa lại một lần nữa được chọn làm kinh đô của một nước độc lập. Tất cả những yếu tố trên đã làm thành những tiền đề nhất định, mở đường cho Cổ Loa (Hà Nội) trở thành vị trí quan trọng bậc nhất về mọi mặt trong các thời đại về sau.

Thăng Long thời Lý

Khi nhà Đinh, nhà Tiền Lê làm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình (củng cố độc lập dân tộc, khôi phục thống nhất quốc gia) thì Hoa Lư cũng vừa xong sứ mệnh lịch sử của một thủ đô thời kỳ đầu khi đất nước giành lại độc lập. Độc lập Tổ quốc đã được thử thách và vững vàng hơn. Những tiền đề cần thiết cho bước nhảy vọt về kinh tế, phát triển huy hoàng về văn hoá đã được chuẩn bị qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê. Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc. Với nhãn quan chính trị xuất sắc của mình, nhà vua đã nhận ra vị thế đắc địa của thành Đại La.

Bản đồ thành Thăng Long xưa - Ảnh tư liệu bảo tàng

Năm 1029, vua Lý Thái Tông cho xây dựng lại Cấm thành. Trên nền cũ của điện Kiền Nguyên dựng điện Thiên An làm chính, hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và Diên Phúc. Phía trước cổng Thiên An là sân rồng, hai bên tả hữu sân rồng dựng gác chuông, xung quanh bốn bề đều dựng hành lang và dải vũ. Chếch về phía Đông là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ. Phía trước sân rồng là điện Phụng Tiên, trên điện có lầu Chính Dương là nơi đặt đồng hồ và báo canh. Đằng sau điện Thiên An là điện Thiên Khánh hình bát giác, nối liền Thiên Khánh với điện Trường Xuân phía sau là các cầu Phượng Hoàng, trên điện Trường Xuân có gác Long Đồ.

Năm 1203, vua Lý Cao Tôn cho dựng thêm cung điện ở phía Tây tẩm điện: Chính giữa đặt điện Thiên Thuỵ, bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Thiềm Quang, đằng trước xây điện Chính Nghi, phía trên dựng điện Kính Thiên. Chính giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Phía sau mở điện Thắng Thọ, trên có dựng gác. Bên trái xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh đều dựng nhà hành lang. Phía trái gác Nguyệt Bảo dựng toà Lương Thạch, phía Tây gác xây Dục Đường (nhà tắm). Ngoài ra còn rất nhiều công trình khác như gác Phú Quốc, thềm Phượng Tiêu, cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư, đình Ngoạn Y. Tất cả các công trình này đều có trồng hoa thơm cỏ lạ, “cách chạm trổ trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ xưa chưa từng có vậy” (Việt sử lược .t .14). Bao bọc các cung điện là một bức tường thành bảo vệ gọi là Long Thành với 10 vệ cấm quân ngày đêm canh gác. Ngoài các cung điện, nhà Lý còn xây dựng khá nhiều các đền miếu, chùa tháp, hồ, vườn cảnh để phục vụ cho nhu cầu du ngoạn và tâm linh của hoàng tộc như chùa Vạn Tuế, chùa Hưng Thiên Ngự, chùa Chân Giáo, đền Quán Thánh và hàng loạt lầu các, đài tạ rất đẹp như: đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói vàng, tầng dưới lợp ngói bạc; hồ Kim Minh vạn tuế có cầu Vũ Phượng đi vào núi đá giữa hồ; hồ Thuỵ Thanh, Ứng Minh (đào 1051); hồ Phượng Liên (đào 1098), cạnh hồ dựng điện Sùng Uyên, điện Huy Dương, đình Lai Phượng, điện Ánh Thiềm, đình Át Vân cùng lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa. Nhiều vườn ngự cũng được mở trong khu hoàng thành: vườn Quỳnh Lâm, Thắng Cảnh, Xuân Quang, Thượng Lâm. Trong các vườn này còn đào hồ nuôi thả hải sản như đồi mồi, cá biển...Tất cả các công trình kiến trúc trong hoàng thành đều xây dựng quy mô tráng lệ, từ lầu son gác tía đến các công trình văn hoá, tôn giáo hoà quyện với thiên nhiên tạo nên dáng vẻ riêng của chốn Cửu trùng.

Khu thứ hai là khu dân sự, quan lại và binh lính ở bao bọc lấy hoàng thành, còn gọi là kinh thành. Khu này chia thành các phường nông nghiệp và thủ công nghiệp. Cả hai khu (Hoàng thành và Kinh thành) được bao bọc bằng đê của ba con sông nói trên.

Đời sống kinh tế tại Thăng Long thời gian này đã có nhiều thay đổi. Từ vị trí là một miền dân khang vật thịnh, nên khi trở thành Kinh sư, dân số Thăng Long ngày càng đông, hoạt động kinh tế của kinh thành ngày càng sầm uất, phồn thịnh hơn trước.

Chỉ trong khoảng hơn một trăm năm sau khi trở thành kinh đô, tại Thăng Long, nhà Lý trong giai đoạn thịnh đạt đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trên quy mô lớn, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt trong lịch sử Việt Nam. Tứ đại khí: chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, tượng Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh chính là được thiết kế từ thời kỳ này. Nhà Lý đã trải qua 9 đời ở kinh thành Thăng Long, đổi quốc hiệu là Đại Việt, tồn tại 215 năm.

Thăng Long thời Trần

Nhà Lý chính thức chấm dứt sự thống trị của mình vào ngày mồng 1 tháng Chạp năm Ất Dậu (1226), khi Lý Chiêu Hoàng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ đã xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Nhà Trần thay nhà Lý trên chính trường chính trị, đồng thời cũng thay nhà Lý mở ra một thời kỳ mới phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt: vững vàng, năng động, thống nhất và ổn định cho đến giữa thế kỷ XV.

Thăng Long thời Trần vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá lớn nhất của Đại Việt bấy giờ. Cuộc chuyển giao triều chính diễn ra một cách hoà bình đã không làm cho Thăng Long thay đổi nhiều. Về kiến trúc vẫn như thời Lý, nhiều cung điện trong Hoàng thành và Cấm thành vẫn giữ nguyên. Nhà Trần ngoài việc trùng tu các công trình cũ còn xây dựng một số công trình kiến trúc mới ở Thăng Long: lập Viện quốc học, Giảng võ đường... Kinh thành chia làm 61 phường, bao gồm cả phường buôn, phường thợ và phường làm nông nghiệp. Một số tên phường trong thời kỳ này còn thấy lác đác ghi trong sử sách cũ như Thái Hoà, Báo Thiên, Phủng Nhật, Cơ Xá, Bố Cái, Hạc Kiều, Thịnh Quang, Toán Viên...

Thăng Long thời Lê Sơ

Như một quy luật, nhà Trần sau một thời gian hưng thịnh đã đi vào suy thoái, quý tộc ngoại thích Hồ Quý Ly chiếm ngôi lập ra nhà Hồ (1400 - 1407). Ông xây dựng một đô thành mới ở Thanh Hoá gọi là Tây Đô. Thành Thăng Long, lúc này đổi là Đông Đô rồi Đông Quan lại một lần nữa chứng kiến quân xâm lược ngoại bang giày xéo. Năm 1406, nhà Minh phái 20 vạn quân sang xâm lược Đại Việt. Cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo thất bại, thành Đông Quan trở thành nơi chiếm đóng của giặc. Đất nước đứng trước thử thách mới của lịch sử để rồi chứng kiến cuộc chiến tranh giữ nước của Lê Lợi - Nguyễn Trãi (1418). 10 năm sau ngày phất cờ khởi nghĩa tại núi rừng Lam Sơn, quê hương của người anh hùng Lê Lợi, toàn quân dân Đại Việt đã đại thắng giặc Minh, lập nên một triều đại mới: triều đại nhà Lê.

Ông Đồ - nét văn hoá xưa của Thăng Long - Hà Nội

Năm 1512, Lê Tương Dực lệnh cho Vũ Như Tô đứng ra trông nom xây dựng hơn 100 nóc cung điện có gác và khởi công xây dựng Cửu Trùng Đài. Năm 1514 lại cho mở rộng Hoàng thành mấy nghìn trượng (mỗi trượng 3,6m) bao bọc cả quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ, tường thành chạy từ phía Đông Nam đến Tây Bắc, chắn ngang sông Tô. Theo lối vẽ ước lệ của bản đồ thì phỏng đoán rằng mặt phía Đông gần trùng với phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da ngày nay. Phía mặt Bắc chạy theo sông Tô, trùng với đường Hoàng Hoa Thám, mặt phía Tây là đường Bưởi. Mặt Nam có thể là một đoạn phố Cầu Giấy chạy sang Kim Mã rồi Sơn Tây, Trần Phú tới Hàng Da. Có thể hiểu đây là khu Hoàng thành với diện tích rộng gấp đôi Hoàng thành thời Lý -Trần. Khu dân cư chia làm hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường. Vào thời Lê Sơ, Thăng Long vẫn là nơi tập trung buôn bán lớn nhất của cả nước. Đồng thời cũng là nơi dồn tụ nhiều ngành nghề thủ công cũng như các thợ thủ công giỏi nổi tiếng. Kinh thành được xây dựng lại đàng hoàng hơn, Văn Miếu được mở rộng, Quốc Tử Giám được dựng lại, các hoạt động kinh tế văn hoá, giáo dục, thi cử đều được khôi phục và phát triển, đặc biệt cực thịnh dưới thời vua Lê Thánh Tông. Có thể nói đây là thời kỳ phát triển đỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Đây cũng là thời kỳ ra đời của Hội Tao Đàn với 28 thành viên được ví như 28 vì tinh tú, trong đó Lê Thánh Tông vượt lên khỏi tầm vóc một nhà chính trị, một nhà vua, trở thành một nhà văn hoá lớn có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc. Ông đã trở thành gương mặt tiêu biểu của văn học Thăng Long thế kỷ XV. Nhà Lê Sơ tồn tại 99 năm, tổng cộng 10 đời vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng.

Thăng Long thời Mạc – Lê Mạc

Cuối triều Lê bắt đầu từ Lê Uy Mục, chính trường Thăng Long đã diễn ra khá phức tạp. Vua kém tài thiếu đức, bề tôi mưu thoán đoạt vương quyền, lòng người ly tán, chính trị, xã hội khủng hoảng sâu sắc. Tham gia vào sự biến loạn chủ yếu là các gương mặt thuộc tầng lớp vương công, văn võ bá quan, trong đó nổi lên nhân vật Mạc Đăng Dung. Đến thời Cung Hoàng thì uy thế của Mạc Đăng Dung đã bao trùm hết thảy và thu phục được lòng người. Sử chép về ông như sau: “Từng bình được nhiều giặc lớn, uy quyền ngày càng thịnh, mà đạo quân nhà vua thì yếu ớt, lòng người ai cũng hướng về Đăng Dung” (Lê Quý Đôn - Đại Việt thông sử). Qua hoạt động thực tiễn, Mạc Đăng Dung đã tỏ ra vượt trội hơn người khác về uy tín và tài năng. Việc phải đến đã đến, Thăng Long một lần nữa chứng kiến chính biến vương triều nhà Lê chuyển qua nhà Mạc (1527).

Tuy nhiên họ Mạc lập ra một triều đại mới trong bối cảnh đã hình thành nhiều thế lực quan liêu có quyền lực quân sự lớn nhỏ cho nên lâm ngay vào tình trạng chiến tranh phân liệt chứ không phải thống nhất xã hội. Với việc phế bỏ nhà Lê, họ Mạc đã mở đầu cục diện phân tranh. Cuộc phân tranh này trước tiên diễn ra giữa Tây Đô và Thăng Long, hình thành nên cái gọi là Bắc triều (thế lực nhà Mạc) và Nam triều (thế lực nhà Trịnh) để rồi sau đó chuyển sang cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài, tiền đề cho một sự hợp nhất lớn hơn vào 200 năm sau.

Bức tranh Thăng Long thời Mạc khá phức tạp, cung điện kho tàng và các phường phố ở Kinh thành đã nhiều lần bị thiêu đốt, tàn phá. Hoàng thành nhiều năm bị bỏ trống càng trở nên hoang phế điêu tàn. Cuối năm 1585, Mạc Mậu Hợp trở lại Thăng Long cho tu sửa lại Hoàng thành để chống lại cuộc tấn công của họ Trịnh. Lần tu sửa này Hoàng thành đã thu hẹp lại về hai phía Đông và phía Tây, một số cung điện bị bỏ ra ngoài hoàng thành. Tuy vậy Hoàng Thành thời gian này vẫn rộng hơn Hoàng thành thời Lý - Trần và rộng hơn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn.

Năm 1592, Trịnh Tùng, con trai của Trịnh Kiểm đã kéo quân vây đánh Đông Đô, Mạc Mậu Hợp bị giết. Vua Lê Thế Tông được họ Trịnh phò tá trở lại Thăng Long mở đầu thời kỳ mới và duy nhất trong lịch sử Việt Nam vừa có Vua vừa có Chúa mà lịch sử gọi là thời Lê Trung Hưng. Sau khi đuổi được họ Mạc ra khỏi Thăng Long, năm 1593, chúa Trịnh cho sửa sang qua loa lại Hoàng thành để vua Lê ở, còn lại tập trung dựng phủ chúa bên ngoài Hoàng thành. Đây mới cơ quan đầu não đích thực của trung ương thời bấy giờ với nhiều công trình kiến trúc xa hoa lộng lẫy: lầu Ngũ Long (phía bờ Đông hồ Gươm), đình Tả Vọng (nay là gò Rùa), cung Thuỵ Khánh (chỗ đảo Ngọc Sơn). Năm 1728, Trịnh Giang còn cho đào hầm ở phía Nam hồ Gươm để dựng cung điện ngầm dưới đất gọi là Thưởng Trì cung. Khu văn miếu được mở rộng thêm thành một khu học xá lớn nhất trong thời phong kiến bao gồm các điện Đại Thành thờ tiên thánh, nhà Giải Vũ thờ tiên nho, nhà Thái học bên trong trường Quốc Tử Giám. Hai phía Đông và Tây nhà Thái Học dựng nhà bia ghi danh tiến sĩ và dựng cả khu nhà 150 gian cho học sinh ở tạo thành một nhà học quy mô chưa từng có trong các thời đại trước. Ngoài ra, hàng loạt các đền chùa có quy mô lớn cũng được dựng lên trong thời gian này như: chùa Trấn Quốc, chùa Tiên Tích, đền bà Kiệu....

Mặc dù có nhiều biến động về chính trị, xã hội song đây cũng chính là thời kỳ kinh tế và văn hoá đặc biệt phát triển, hình thành nên những vùng buôn bán khá hưng thịnh. Chợ phát  triển nhiều, buôn bán sầm uất ở kinh kỳ, Kiến An... Tầng lớp thị dân ngày một gia tăng, có một số trở thành chủ xưởng, chủ hiệu giàu có, nhưng đông đảo vẫn là người sản xuất và buôn bán nhỏ. Vì thế Thăng Long không vượt qua được mô hình cấu trúc của thành thị trung đại phương Đông để trở thành “thành thị tự do” như ở phương Tây. Tuy thế trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đây cũng là thời gian thành Thăng Long chứng kiến sự nở rộ của mặt bằng trí thức. Hàng loạt các tiến sĩ đã thi đỗ, trong đó có một tiến sĩ nữ (Trần Thị Duệ), có người đã trở thành đại trí thức như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan... Cùng với những tên tuổi người Thăng Long gốc như Đặng Trần Côn, Bùi Huy Bích, các vị lập nghiệp ở đây như Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm đã làm cho văn hoá Thăng Long thêm sáng giá. Đây chính là bước đệm cho sự phục hưng văn hoá ở các thế kỷ sau.

Đặc biệt đến đầu thế kỷ XVII, ở Thăng Long ngày xuất hiện nhiều thương điếm của người châu Âu như Hà Lan, Anh, đặc biệt là các thuyền nhân người Hoa sang cư trú và buôn bán. Tất cả những hoạt động đó đều diễn ra trong một bầu không khí chính trị vần vũ của những cuộc chiến tranh kéo dài giữa hai thế lực: Chúa Trịnh (Đàng Ngoài) và Chúa Nguyễn (Đàng Trong). Cuộc chiến chỉ chấm dứt khi Nguyễn Huệ nổi lên tiêu diệt cả hai thế lực, lập lại trật tự vào năm 1786.

Thăng Long thời Tây Sơn

Mùa hè năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra Đàng Ngoài lật đổ chế độ chúa Trịnh. Ngày 21/07/1786, quân Tây Sơn đã làm chủ Thăng Long. Nền thống trị của họ Trịnh tồn tại 241 năm (1545 - 1786), trong đó có 194 năm ở Thăng Long. Bằng chiến công này, quân Tây Sơn đã kiểm soát cả nước, xoá bỏ tình trạng chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài kéo dài hơn 2 thế kỷ. Chính quyền được trao lại cho vua Lê, Nguyễn Huệ về Nam mang theo người con gái Hà thành. Thăng Long tưng bừng chứng kiến một đám cưới chưa từng có trong lịch sử của công chúa Ngọc Hân và người anh hùng áo vải.

Lê Chiêu Thống không điều hành được chính sự, các cánh quân phiệt nổi lên tranh giành quyền bính, Nguyễn Huệ đã phải 2 lần đưa quân ra dẹp loạn. Cuối năm 1788, Chiêu Thống trốn khỏi Thăng Long, cho người sang cầu cứu nhà Thanh. Ngày 16/12/1788, 29 vạn quân Thanh hùng hổ tiến vào Đại Việt. Nguyễn Huệ lúc đó đang ở Phú Xuân, nghe tin cấp báo lập tức thần tốc xuất quân tiến ra Bắc hà. Trên đường tiến quân, để sáng tỏ danh nghĩa với cả nước và quy tụ nhân tâm, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế, đặt hiệu Quang Trung.

Với tài dùng binh xuất sắc, kết hợp phương thức chiến lược thần tốc, táo bạo, ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), đội quân bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh, tiêu biểu là trận Ngọc Hồi - Đống Đa do đích thân Quang Trung trực tiếp chỉ huy tiến vào giải phóng Thăng Long. Tuy nhiên, sau khi quét sạch quân xâm lược nhà Thanh trên đất Bắc hà, vua Quang Trung chỉ để lại một bộ phận quân đội cũng như quan lại để tiếp quản thành Thăng Long, còn lại rút toàn bộ về kinh thành Phú Xuân. Thăng Long lúc đó chỉ còn tồn tại với tư cách là một thủ phủ của xứ Bắc và được gọi là Bắc thành mà thôi.

Kể từ triều Tây Sơn, thủ đô của nước ta đặt tại Phú Xuân, nhà Tây Sơn tồn tại được 24 năm từ vua Thái Đức đến Cảnh Thịnh.

Thăng Long thời Nguyễn

Năm 1802, Nguyễn Ánh với sự trợ giúp của Pháp đã tiêu diệt nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế, hiệu Gia Long, đóng đô tại Phú Xuân (tức Huế ngày nay). Từ đấy, kinh thành Thăng Long cũng như toàn miền Bắc phải chịu một sự chuyển đổi lớn: Từ kinh thành hơn 800 năm trở thành trấn thành rồi tỉnh thành. Sự chuyển đổi này có nhiều lý do: thứ nhất nhà Nguyễn không được lòng nhân sĩ Bắc hà; thứ hai Phú Xuân (Huế) từng là vùng chịu ảnh hưởng của thế lực nhà Nguyễn trong mấy trăm năm nên đã đi vào nề nếp. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành nên tên Thăng Long cũng bị đổi từ nghĩa rồng bay sang thành thịnh vượng.

Để thống trị Bắc kỳ, năm 1805 nhà Nguyễn cho xây lại thành Thăng Long nhỏ hẹp hơn rất nhiều so với Hoàng thành các thời trước. Thành mới xây phỏng theo kiểu thành Vauban của Pháp cuối thế kỷ XVII. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số, chu vi khoảng 1285 trượng. Tường thành xây bằng gạch hộp, chân thành xây bằng đá xanh, tường cao 1 trượng 1 thước, dày 4 trượng mở ra 5 cửa Đông - Tây - Bắc - Đông Nam và Tây Nam, ngoài mỗi cửa có một mảnh thành nhỏ gọi là Dương Mã thành để giữ cửa. Trong thành có nhà Kính Thiên, cột cờ. Trước cột cờ là Hồ Voi, nơi đặt dinh tổng trấn và các Tào thay mặt các Bộ, có kho, võ miếu, đàn Xã tắc để tế trời đất, nền Tịch điền để làm lễ động thổ hàng năm. Có nhà ngục và nơi pháp trường gọi là Trường hình. Mỗi cửa thành đều có lính đóng, ngoài cửa Nam có Đình Ngang Cấm Chỉ.

Ngoài thành là các doanh trại quân đội sau đó mới đến các phố phường và khu đồn thuỷ; triều đình cũng cho lập phố Tràng Tiền để đúc tiền kẽm, tiền đồng. Tuy gọi là 36 phố phường nhưng thực chất thì nhiều hơn. Đây là các phố nghề và buôn bán. Có những phố chuyên phục vụ cho quan lại như phố Hàng Đào bán tơ lụa; phố Mã Vĩ bán mũ áo cho các quan chức và phường chèo; phố Hàng Bài làm hài cho các bà lớn và những người đồng cốt; phố Hàng Bạc bán đồ trang sức; phố Hàng Đàn làm võng kiệu, long đình... Lại có những phố chuyên bán đồ ăn như phố Hàng Mắm, Hàng Gạo, Hàng Hành, Hàng Gà, Hàng Khoai, Hàng Rươi, Hàng Bồ... (đều là những phố nằm trong quận Hoàn Kiếm, ngày nay và được gọi là khu Phố cổ).

Vòng ngoài của thành Hà Nội có ngoại thành dài 28 dặm 77 trượng 4 thước, chừng 16 cây số; có 16 cửa ô: Kim Liên, An Tự, Thanh Lãng (Thanh Nhàn), Nhân Hoà, Tây Long (chỗ Nhà Hát Lớn), Đông An, Mỹ Lộc, Trừng Thanh, Đông Hà, Phúc Lâm (Hàng Đậu), Thạch Khối, An Tĩnh (Yên Thành), An Hoà (Yên Phụ), Tây Hồ (đường Bưởi), Vạn Bảo (Kim Mã), Thịnh Quang (ô Chợ Dừa). Những cửa ô này chính là nơi thu hút khách thập phương đổ về làm ăn, vì vậy Thăng Long lúc này mặc dù mất đi chức năng là một kinh đô, song lại cực kỳ phát triển về kinh tế hàng hoá. Dân tứ trấn Đông, Nam, Tây, Bắc đều kéo nhau về Hà Nội làm ăn và tụ tập thành xóm riêng: Phất Lộc, Gia Ngư, Nam Ngư. Những người cùng làng không ở gần nhau thì vẫn có đình chung để hội họp. Dân nghề thì tập họp nhau bằng cách hàng năm tế Tiên sư. Điều đó lý giải tại sao giữa lòng thủ đô Hà Nội ngày nay vẫn có những ngôi đình như Phù Ủng, Lương Ngọc... Các nghề thủ công ở Thăng Long giai đoạn này đã phát đạt đến mức tinh vi như nghề thêu, nghề khảm. Năm 1831, nhà Nguyễn lại loại bỏ chức tổng trấn, chỉ để làm một tỉnh lỵ - tỉnh Hà Nội. Thành bị bạt bớt đi, các công trình văn hoá cũng có những biến đổi: Quốc Tử Giám bị dời vào Huế, nhiều công trình cung điện bị dỡ mang vật liệu vào xây dựng ở Huế, trường thi Hương thành chốn đàn ca giải trí. Một số cửa ô được xây dựng lại trong đó có ô Quan Chưởng (1817). Thăng Long với tư cách một kinh đô thực sự bị loại bỏ trong suốt thời gian 143 năm dưới triều Nguyễn và thời Pháp thuộc, để rồi lại tưng bừng trong tư thế một Thủ đô cách mạng sau này.

Hà Nội thời Pháp thuộc

Sau sự kiện Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam Kỳ (Gia Định, Biên Hoà, Định Tường), đầu tháng 11 năm 1873, F.Garnier đem quân tới Hà Nội. 15 ngày sau, sáng ngày 20/11/1873, y nổ súng. Do triều đình đã chủ hoà nên thành trì không được phòng thủ chắc chắn, thành Hà Nội thất thủ. Thế nhưng nhân dân Hà Nội đã không chịu khuất phục. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, nhân dân Hà Nội đã anh dũng đứng lên kháng Pháp. Ngày 21/12/1873, quân dân Hà Nội kết hợp với quân Cờ Đen khép chặt vòng vây tiêu diệt Garnier ở trận Cầu Giấy.

Thành Hà Nội  - Ảnh tư liệu

Mặc dù tinh thần kháng Pháp anh dũng của nhân dân Hà Nội rất cao, triều đình vẫn không thay đổi ý định cầu hoà. Kết quả là khu Đồn Thuỷ (khu vực Bảo tàng Lịch sử và bệnh viện Hữu Nghị hiện nay) đã bị nhường cho Pháp làm Khu nhượng địa. Henri Riviere được phái đến Hà Nội thay cho Garnier. Tới Hà Nội, hắn gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu (Tổng đốc Hà Nội bấy giờ) đòi quân dân phải đầu hàng. Mặc dù không được lệnh của triều đình Huế, Hoàng Diệu vẫn lãnh đạo nhân dân Hà Nội chiến đấu hết sức anh dũng và tuẫn tiết theo thành. Ngày 19/5/1883, lại một lần nữa quân Pháp bị đại bại tại trận Cầu Giấy. Trong trận này, trung tá hải quân Henri Riviere tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp xâm lược Bắc Kỳ cùng một số sĩ quan binh lính khác bị giết tại trận. Trong tình hình ấy, nếu triều đình Huế cho quân viện trợ thì có thể thừa thắng tiêu diệt hết quân Pháp và giải phóng Hà Nội, nhưng Tự Đức chỉ hy vọng lấy lại Hà Nội bằng con đường hoà hảo nên đã ký hiệp ước "bán nước" nhục nhã năm 1884, công nhận sự đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

Ngay sau khi chiếm Hà Nội, mặc dầu chưa bình định được Bắc Kỳ nhưng thực dân Pháp cũng đã bắt tay vào kiến thiết sơ bộ cơ sở của chúng ở Hà Nội. Năm 1901, chúng xây phủ Thống sứ, nhà bưu điện, kho bạc, nhà Đốc lý, nhà kèn ở vườn hoa Pônbe, mở thêm phố Đồng Khánh, Gia Long cùng trường đua ngựa...một số nhà máy bia, diêm, dệt, điện và Nhà thờ lớn cũng được dựng trong thời gian này. Từ năm 1897, bọn thực dân đã ổn định được Bắc Kỳ nên số tư bản Pháp sang kinh doanh ngày một nhiều, nhà cửa cùng các công trình phục vụ bọn tư bản cũng vì thế mà tăng lên. Đường phố cũng dần được mở mang để phục vụ cho mục đích khai thác và bóc lột của chúng. Đặc biệt sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp càng đẩy mạnh việc khai thác ở Đông Dương, bộ mặt Hà Nội cũng có nhiều thay đổi, giai cấp công nhân hình thành, song đây cũng là thời gian mà các hoạt động kháng Pháp ngày càng nở rộ: Đông Kinh Nghĩa Thục (2/1907), liền sau đó là vụ Hà Thành đầu độc (1908). Năm 1919 có cuộc bãi công của một số nhà máy in ở Hà Nội. Từ đó cho đến năm 1929, những cuộc bãi công của công nhân đã nổ ra liên tiếp. Năm 1925, ở Hà Nội lại xảy ra một sự kiện chính trị làm náo động dư luận toàn quốc, gây nên một phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi suốt từ Bắc chí Nam, đó là vụ án Phan Bội Châu; Lễ truy điệu Phan Chu Trinh...

Bản đồ Hà Nội năm 1873 - Ảnh tư liệu

Vào thời gian này, các cơ sở của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ra đời tại Hà Nội. Phong trào đấu tranh của công nhân mỗi ngày một dâng cao, dẫn đến việc thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Hà Nội (tháng 3/1929) tại số nhà 5D phố Hàm Long. Sau ngày 3/2/1930, ba tổ chức cách mạng của nước ta hợp nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Kể từ đó đến giữa năm 1930, cao trào cách mạng dâng lên ở Hà Nội, phối hợp với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh tạo thành một khí thế cách mạng vô cùng mạnh mẽ. Trong thời kỳ này, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học cũng hoạt động khá sôi nổi ở Hà Nội và đã gây nhiều cơ sở trong số các công chức giáo dục. Nhưng sau vụ bạo động Yên Bái thất bại (1930), hoạt động của họ lắng hẳn.

Đến năm 1936, chớp thời cơ khi chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền, một phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ chống bọn phản động thuộc địa được Đảng phát động trong những năm 1936 - 1939. Đây cũng là thời cơ để Đảng đứng ra tập hợp quần chúng, tạo diễn đàn đấu tranh công khai và gây dựng cơ sở. Ngày 1/5/1938, một cuộc mít tinh khổng lồ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động đã diễn ra tại Hà Nội trước cửa nhà Đấu Xảo. Đó là cuộc mít tinh lớn nhất kể từ khi Pháp cai trị nước ta, kết hợp với nhiều cuộc mít tinh lớn nhỏ khác thúc đẩy phong trào cách mạng ở Hà Nội thu được nhiều kết quả to lớn. Đây chính là thời kỳ tập dượt và chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa 8/1945.

Hà Nội thời kì chống Pháp

Tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo vào Hà Nội. Nhân dân Hà Nội bắt đầu một giai đoạn lịch sử mới: sống và đấu tranh dưới ách thống trị của cả thực dân Pháp lẫn phát xít Nhật. Chúng mở thêm một vài trường cao đẳng để mua chuộc sinh viên. Nhưng tất cả các biện pháp ấy không che lấp được thực tế đời sống ngày càng bị đẩy vào bần cùng của nhân dân ta. Giá sinh hoạt tăng vọt. Ở nông thôn, chúng bắt nhổ lúa trồng đay. Thành thị xuất hiện nhiều loại thuế mới. Nhiều đảng phái chính trị thân Nhật xuất hiện ở Hà Nội gây tác động không nhỏ đến tình hình xã hội lúc bấy giờ.

Kiến trúc Pháp ở Hà Nội - Ảnh : Bùi Ngọc Tuấn

Các tổ chức cách mạng tuy có nhiều thiệt hại nhưng cũng dần phục hồi, đặc biệt là các đoàn thể trong mặt trận Việt Minh được tổ chức khắp trong thành phố. Các hoạt động bất hợp tác với Pháp, Nhật liên tục diễn ra dưới nhiều hình thức: bãi công của công nhân, biểu tình phá kho thóc của nông dân..., tự vệ chiến đấu được thành lập, nhiều vụ trừng trị Việt gian của đội danh dự đã gây chấn động trong thành phố. Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp ở Hà Nội, phong trào cách mạng càng sôi sục. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Trước tình hình và thời cơ có một không hai ấy, Thành uỷ Hà Nội đã quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa. Trong khoảng hai ngày 17 và 18 tháng 8 hầu hết các cơ sở chính quyền bù nhìn thân Nhật xung quanh Hà Nội bị tê liệt. Ngày 19/8 Uỷ ban khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại quảng trường Nhà Hát Lớn thành phố, sau đó biến thành cuộc tuần hành thị uy kéo đến chiếm Bắc Bộ phủ, Trại Bảo an binh, Sở Mật thám...

Sau Hà Nội, Huế và Sài Gòn đã lần lượt nổi dậy. Chỉ trong 10 ngày, chế độ cũ đã bị lật đổ, trật tự mới được thành lập trong toàn quốc. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với nhân dân cả nước và trước thế giới việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Cột cờ Hà Nội - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Sau đó, chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Pháp thay mặt quân đồng minh cùng quân Tưởng đem quân chiếm đóng Hà Nội. Nhân dân Hà Nội cùng cả nước đã tỏ rõ tinh thần yêu nước và kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng. Đêm ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sau hai tháng anh dũng chiến đấu "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", Trung đoàn Thủ đô đã hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch, tạo điều kiện cho Chính phủ rút lên chiến khu Việt Bắc an toàn. Đêm ngày 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô phá vòng vây của địch, rút quân an toàn ra vùng tự do, cùng quân dân cả nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trong thời gian này, Hà Nội vẫn sôi sục khí thế đấu tranh, tiêu biểu là trận đánh sân bay Bạch Mai (thiêu huỷ 25 máy bay, đốt 60 vạn lít ét-xăng); đánh sân bay Gia Lâm, tiêu huỷ 18 máy bay và 1 kho xăng (1954).

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, theo hiệp định Giơnevơ (Genève), Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của địch. Lại một lần nữa, nhân dân Thủ đô đã thắng lợi trước âm mưu biến Hà Nội thành một thành phố chết của địch. Máy móc, điện, nước, tàu xe vẫn đảm bảo lưu thông và bắt đầu hoạt động ngay khi bộ đội vào tiếp quản.

Ngày 10/10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những người dân, đặc biệt là thanh niên Hà Nội tham gia kháng chiến đã trở về tiếp quản thủ đô, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

 

Hà Nội thời kì chống Mỹ

Sau khi tiếp quản, Hà Nội bắt tay vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, đồng thời thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ của nhân dân Hà Nội là xây dựng Thủ đô thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, là hậu phương lớn cho công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Với tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy hết khả năng lao động sáng tạo của quần chúng, chỉ trong 10 năm, thành phố đã trở thành một trung tâm, chính trị và văn hoá quan trọng của cả miền Bắc, bước đầu đặt nền móng cho một nền công nghiệp với trên 200 xí nghiệp lớn nhỏ.

Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Để phá hoại công cuộc cách mạng của ta ở miền Bắc và cứu vãn cho những thất bại của chúng ở miền Nam, từ năm 1965, đế quốc Mỹ đã dùng không quân và hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Sau khi đã tiến công nhiều địa điểm thuộc Hòn Gai, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, từ giữa năm 1966, Mỹ thực sự đánh vào Hà Nội, mở đầu một giai đoạn “leo thang” nghiêm trọng, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Với âm mưu đưa miền Bắc "trở lại thời kỳ đồ đá", đế quốc Mỹ đã đem hàng ngàn tấn bom vào rải thảm Hà Nội, nhiều khu phố, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp đã bị bom Mỹ san phẳng, thành phố bị thiệt hại nặng nề. Nhưng toàn quân và dân Hà Nội vẫn kiên cường bất khuất đánh địch quyết liệt để bảo vệ Thủ đô, bảo vệ những thành quả cách mạng và những công trình văn hoá từ nghìn xưa để lại, đập tan mọi bước leo thang chiến tranh, bắn rơi 358 máy bay, trong đó có 23 máy bay B52, 2 máy F111. Công tác sơ tán cơ quan, xí nghiệp, người già, trẻ em được đẩy mạnh để bảo vệ tài sản và tính mạng của nhà nước và nhân dân. Vừa sản xuất vừa chiến đấu, Hà Nội tiếp tục giữ vững và nêu cao tinh thần quyết thắng lập nhiều chiến công mới.

Hà Nội ngày nay

Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá VI (25/4/1976) đã hoàn thành thống nhất hai miền về mặt nhà nước. Hà Nội vẫn là Thủ đô của đất nước, từ nay mang tên là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Vượt qua những khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, Hà Nội phát huy cao nhất những thuận lợi cơ bản: sự thống nhất về chính trị và địa lý giữa hai miền, sự ủng hộ của đồng bào cả nước, huy động tới mức tối đa tiềm lực lao động chân tay, trí óc và sự hợp tác kinh tế của các nước trên thế giới để khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá.

Bình yên đường phố Hà Nội - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986), với đường lối chiến lược đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội Đảng bộ Hà Nội lần thứ X đã xác định nhiệm vụ đổi mới của Thủ đô, nêu lên những chủ trương và quyết sách góp phần đưa thành phố ngày một tiến lên. Hà Nội đã từng bước phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách khoán hộ nông nghiệp và chế độ hợp tác mới đã khiến bộ mặt nông thôn các vùng ven đô thay đổi theo hướng ngày một ấm no hơn. Quá trình dân chủ hoá xã hội, xây dựng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền đã tạo điều kiện cho việc làm ăn kinh doanh sản xuất ngày một ổn định.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống các tệ nạn xã hội được tiến hành thường xuyên liên tục và mang lại kết quả khả quan. Việc mở mang đầu tư và hợp tác quốc tế cũng như huy động nội lực trong nhân dân bước đầu thu được những thành tựu. Với vai trò là trung tâm chính trị, văn hoá, khoa học, kinh tế của cả nước, Hà Nội đã phát huy tiềm năng chất xám, bước đầu tạo ra những chuyển biến trong các hoạt động kinh tế, văn hoá, văn nghệ, giáo dục và khoa học công nghệ. Ngày nay, Hà Nội đang vững bước tiến lên trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước.

Tên gọi Hà Nội qua các thời kì lịch sử
 

Hà Nội là thủ đô, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Việt Nam. Đây là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi. Có thể chia tên gọi của vùng đất văn hiến này thành hai loại : chính quy và không chính quy.

Tên gọi chính quy

Là tên gọi được chép trong các sử sách do các triều đại phong kiến chính thức đặt.

Long Đỗ: Tên gọi này xuất phát từ một truyền thuyết. Cao Biền là một thầy địa lí nổi tiếng của nhà nước phong kiến Trung Hoa. Khi vua nhà Đường biết vùng đất phương Nam có tụ vương khí nên sai Cao Biền sang nước ta trấn long mạch và cai quản Giao Châu (tên gọi Việt Nam thời bấy giờ). Năm 886, thành Đại La được đắp hoàn chỉnh. Cao Biền đến nơi, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Từ đó, trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Tên gọi này cũng được nhiều vị quan lại dùng, như vào năm Quang Thái thứ 10 (1397), đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời đô về phủ Thanh Hoá. Khu mật sứ Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can : "Ngày xưa, nhà Chu, nhà Nguỵ dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Ðỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi".

Tống Bình: Đây là tên trị sở của triều đình phong kiến phương Bắc trong những năm Bắc thuộc, tiêu biểu là đời Tuỳ (581 - 618), đời Đường (618 - 907). Trước đời Tuỳ, trị sở được đặt tại vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay), đến đời Tuỳ mới chuyển đến Tống Bình.

Đại La: Đại La còn gọi là Đại La Thành. Đây nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy kinh đô (gồm Tử Cấm Thành - Kinh Thành - Đại La Thành). Trong Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ đã có nhắc đến tên gọi này.

Thăng Long: Là tên gọi thủ đô sau khi vua Lý Thái Tổ dời đô vào năm 1010. Giải thích về tên gọi này, Đại Việt sử kí toàn thư đã viết : "Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Ðại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long". Đây là tên gọi có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong các tên gọi của Hà Nội.

Đông Đô: Cuối đời nhà Trần, Hồ Quý Ly cướp ngôi, cho xây dựng ở phủ Thanh Hoá một toà thành gọi là Tây Đô. Tương ứng với Tây Đô, Thăng Long được gọi thành Đông Đô. Trong Việt sử thông giám cương mục, các sử thần nhà Nguyễn cũng đã có nói đến tên gọi này như sau : "Ðông Ðô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Ðô, Thăng Long là Ðông Ðô".

Đông Quan: Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt với hàm nghĩa kì thị kinh đô của Việt Nam chỉ được ví như "cửa quan phía Đông" của nhà nước phong kiến Trung Hoa. Tên gọi này có sau năm 1408, khi cha con Hồ Quý Ly bị đánh bại.

Đông Kinh: Theo Đại Việt sử kí toàn thư, tên gọi này ra đời như sau: "Mùa hạ, tháng 4 năm Ðinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Thái Tổ - BTV) từ điện tranh ở Bồ Ðề, vào đóng ở thành Ðông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Ðại Việt đóng đô ở Ðông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Ðông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Ðô, cho nên gọi thành Thăng Long là Ðông Kinh"

Bắc Thành: Tên gọi này có từ thời Tây Sơn (1787 - 1802). Theo Nguyễn Vinh Phúc trong Đường phố Hà Nội thì vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế ngày nay) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành.

Thăng Long: Tên gọi Thăng Long này khác với tên gọi vào đời Lý. Theo sách Lịch sử thủ đô Hà Nội thì "Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế - BTV), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ "Long" là Rồng thành chữ "Long" là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ "Long" là "rồng". Vì vậy, Thăng Long (昇龍) có nghĩa là Rồng bay lên được đổi thành Thăng Long (昇隆) có nghĩa là Thịnh vượng lên. Việc đổi tên này được thực hiện vào năm 1805.

Hà Nội: Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hoà, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lị của Hà Nội. Tên gọi Hà Nội được giữ đến ngày nay.

Tên không chính quy

Là những tên gọi của Thăng Long - Hà Nội được dùng trong khẩu ngữ hay thơ văn, ca dao ...

Trường An: Đây vốn là tên gọi của hai triều đại phong kiến cực thịnh vào bậc nhất của Trung Quốc : Tiền Hán (206 tr CN - 8 sau CN) và Ðường (618 - 907). Các nhà nho Việt Nam đã dùng từ này để chỉ kinh đô nói chung. Từ đó, người bình dân đã sử dụng từ này như hàm nghĩa là kinh đô trong các câu ca dao, tục ngữ của mình và người Tràng An chính là cách gọi để chỉ người ở kinh đô.

Phụng Thành: tên gọi này xuất hiện ít, nhưng đến nay vẫn còn lưu trong bài phú Nôm rất nổi tiếng của Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh là Phượng Thành xuân sắc phú (Bài phú tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng). Nội dung bài phú này là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng thành hay Phượng thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

Long Biên: Đây vốn là tên gọi nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) đóng trị sở của Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó). Sau đó, tên gọi này đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long - Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Ðức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

Long Biên tài hướng Phượng thành hồi
Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!

Dịch nghĩa:

Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.
Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi về triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.

Thành Long Biên ở đây vua Tự Ðức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877, vua Tự Ðức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

Long Thành: Đây là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Tên gọi này nay còn thấy nhiều trong thơ ca như Long thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành) của Ngô Ngọc Du hay bài thơ nổi tiếng Long Thành cầm giả ca (Bài ca người gảy đàn ở Long Thành) của Nguyễn Du.

Hà Thành: Đây là tên viết tắt của thành phố Hà Nội, thường được dùng nhiều trong thơ ca như Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai.

Hoàng Diệu: Hoàng Diệu là tên vị Tổng đốc Thành Hà Nội đã tuẫn tiết giữ thành vào thời nhà Nguyễn. Ngay sau Cách mạng tháng Tám - 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam cũng sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Ngoài ra, trong dân gian còn có nhiều cách gọi để chỉ vùng đất Thăng Long - Hà Nội như Kẻ Chợ, Thượng Kinh, Kinh Kì ... Loại tên này được dùng trong ca dao, thơ văn, đôi khi chỉ theo cách gọi cảm quan của một số người. Và cách gọi này cũng rất nhiều, không thể thống kê hết được.

Dân cư và sự phân bố dân cư
 

Hà Nội cũng như nhiều thành phố lớn khác của Việt Nam, có sự phân bố dân cư không đồng đều. Dân cư tập trung chủ yếu ở các vùng trung tâm, các quận nội thành. Tại đây, mật độ dân cư đông đúc. Trước khi đề án mở rộng địa giới hành chính thủ đô được phê duyệt thì Hà Nội là thành phố có mật độ dân số cao nhất Việt Nam... Ở các huyện ngoại thành và một phần quận Tây Hồ, dân cư chủ yếu là người dân gốc. Còn ở các quận cũ của nội thành, dân cư hầu hết đều tập hợp từ các tỉnh, thành khắp đất nước về sinh sống và làm việc trong các cơ quan Trung ương. Cư dân Hà Nội chủ yếu là người Việt, song cũng có một số dân tộc ít người khác trong đó nhiều nhất là người Hoa. Mật độ dân số của Hà Nội có chiều hướng ngày càng tăng (năm 2008 thì giảm do xác định địa lí hành chính mới, sáp nhập với Hà Tây và một phần tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ) tương ứng với tỉ lệ tăng dân số hàng năm (chủ yếu là tăng cơ học). Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự bố trí lao động, giải quyết việc làm, ngành nghề, đời sống, nơi cư trú, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái.

Thế nhưng, chính những lợi thế về dư địa chí đã tạo cho Hà Nội một khả năng giao lưu trong nước và quốc tế thuận lợi. Chính những bàn tay, khối óc cần cù, sáng tạo của cư dân Hà Nội xưa và nay đã tạo cho Hà Nội một vị trí xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa và du lịch, là thủ đô của nước Việt Nam, một trong những thủ đô hấp dẫn trên thế giới.

Chính trị, Văn hóa xã hội, Giáo dục
 

Chính trị

Phủ chủ tịch - Ảnh : Hoàng Chí Hùng

Đây là trung tâm chính trị lớn của cả nước với các cơ quan quản lí nhà nước cấp cao như Phủ Chủ tịch nước, Quốc hội, văn phòng các Bộ, Ngành trung ương. Đây cũng là nơi tập trung Đại sứ quán của các nước đến đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hiện nay, Hà Nội có tất cả 57 Đại sứ quán các nước đang đặt trụ sở và nhiều văn phòng đại diện của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ.

Văn hoá

Hà Nội từ xưa đến nay đã được coi là một trung tâm văn hóa của Việt Nam với nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật cũng như nhiều danh nhân văn hóa lớn đã sinh sống, học tập và làm việc tại đây. Nhiều môn nghệ thuật từ thời phong kiến vẫn còn tồn tại đến ngày nay như ca trù, múa rối nước. Tất cả đã tạo nên cho Hà Nội một nét riêng độc đáo. Một đặc điểm khác cũng nổi bật là Hà Nội trở thành cảm hứng và đề tài sáng tác của rất nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật hiện đang lưu hành.

Hà Nội còn có Thư viện Quốc gia Việt Nam, là nơi lưu giữ nhiều công trình nghiên cứu và sách vở, tài liệu có giá trị. Đây cũng là thư viện lớn nhất Việt Nam. Ngoài ra, hệ thống bảo tàng trên địa bàn Hà Nội khá phong phú, tiêu biểu là Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, tiền thân là bảo tàng của trường Viễn Đông Bác Cổ nổi tiếng Đông Dương nói riêng và thế giới nói chung  vào thế kỉ 19 - 20.

Hà Nội còn một số trung tâm văn hóa lớn như Nhà hát lớn Hà Nội, Trung tâm Hội nghị Quốc gia với những kiến trúc hiện đại nổi bật, là nơi diễn ra các sự kiện văn hóa, chính trị, xã hội  lớn của Việt Nam và quốc tế.

Tất cả các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản cấp quốc gia đều đặt trụ sở tại Hà Nội. Tin tức của mọi vùng lãnh thổ trên đất nước cũng được phát ra từ đây trên sóng phát thanh và truyền hình. Hàng trăm tờ báo và tạp chí, hàng chục đầu sách mới của gần 40 nhà xuất bản trung ương và địa phương phát hành khắp nơi, ra cả nước ngoài, làm phong phú đời sống văn hóa của nhân dân và giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới.

Trụ sở Nhà hát tuồng trung ương - Ảnh : Bùi Ngọc Tuấn

Các cơ quan thông tin báo chí của Hà Nội gồm có Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, báo Hà Nội mới, Kinh tế đô thị Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội cũng là một trong những trung tâm cung cấp tri thức cho thành phố nói chung và cả nước nói riêng với hàng trăm đầu sách mỗi năm trong đó sách về đề tài Hà Nội chiếm đa số.

Hà Nội cũng là nơi tập trung của nhiều văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu và nhà khoa học danh tiếng. Trụ sở trung ương các hội văn học - nghệ thuật, các hội khoa học - kỹ thuật, các xưởng phim, nhà hát quốc gia của các bộ môn nghệ thuật đều đóng ở thủ đô.

Hà Nội đứng đầu cả nước về số lượng Nhà bảo tàng, thư viện, nhà văn hoá, câu lạc bộ, rạp hát và đoàn nghệ thuật. Hiện Hà Nội có 521 trong số hơn 2000 di tích đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận xếp hạng cấp quốc gia. Ngoài các nhà hát nghệ thuật quốc gia có trụ sở tại Hà Nội, riêng thành phố Hà Nội có sáu nhà hát và đoàn nghệ thuật địa phương. Vốn nghệ thuật dân gian truyền thống được quan tâm bảo tồn và phát huy, tiêu biểu là đoàn múa rối nước Thăng Long không chỉ sáng đèn hằng đêm ở nhà hát bên Hồ Hoàn Kiếm mà còn đi lưu diễn nhiều lần ở các châu lục. Câu lạc bộ chèo truyền thống Nguyễn Đình Chiểu vẫn thường xuyên trình diễn các trích đoạn chèo cổ của ông cha để lại. Vở Kiều của Nhà hát cải lương Hà Nội đã có hơn 2000 đêm diễn. Nhà hát kịch Hà Nội, Nhà hát ca múa Thăng Long là những đơn vị nghệ thuật có hạng của cả nước với tuổi đời hơn 40 năm. Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội có chín hội thành viên, gần 2000 hội viên, là lực lượng nòng cốt trong các phong trào văn hoá, văn học - nghệ thuật của thành phố nói riêng và cả nước nói chung.

Hà Nội cũng là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa mới.

Năm 2001, trên vị trí xây dựng toà nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình đã phát hiện ra di tích Hoàng thành Thăng Long. Từ tháng 12/2002 đến nay, khu di tích đã được  khai quật trên diện tích hơn 19.000 m2. Đây là quy mô khai quật khảo cổ học lớn nhất ở Việt Nam và cũng vào loại lớn nhất ở Đông Nam Á. Từ đó đã phát lộ một phức hệ di tích – di vật rất phong phú, đa dạng từ thành Đại La (thế kỷ VII - IX) đến thành Thăng Long (thế kỷ Xl - XVIII) và thành Hà Nội (thế kỷ XIX). Hiện nay, khu di tích này đang được đề cử để được công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Xã hội

Ở vị trí thủ đô, Hà Nội là đầu tàu của cả nước về các hoạt động văn hoá - xã hội. Trong những năm qua, tình hình văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ. Các chỉ tiêu về dinh dưỡng trẻ em, cung cấp nước sạch đều vượt kế hoạch. Các chợ thiết bị - công nghệ, sàn giao dịch công nghệ được tổ chức ở một số nơi đã thúc đẩy tình hình thị trường khoa học và công nghệ. Các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản, thông tin đối ngoại có nhiều tiến bộ, cung cấp thông tin kịp thời đến người dân. Các ấn phẩm luôn theo kịp nhu cầu tìm hiểu của mọi người. Thành phố cũng đã tăng cường kiểm soát thị trường dược và vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lí triệt để, ngăn chặn dịch cúm gà, dịch lở mồm long móng, dịch heo tai xanh.

Trong toàn thành phố, công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục được thực hiện và đạt được nhiều kết quả khả quan. Các chương trình đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng được đầu tư, đặc biệt là các vùng ngoại thành.

Tuy nhiên, tháng 11/ 2008 vừa qua, Hà Nội đã hứng chịu một trận mưa lịch sử 350mm và hậu quả là các tuyến đường trung tâm, tuyến đường nội ô bị chìm trong biển nước. 17 người chết, thiệt hại hơn 3000 tỉ đồng, hàng ngàn người mắc phải các bệnh ngoài da, bệnh sốt xuất huyết bùng phát mạnh mẽ. Trận mưa đã gây nhiều thiệt hại về người và của nhưng việc dự báo trước tai họa không được quan tâm. Việc ngập lụt kéo dài nhiều ngày trong nội ô thành phố lại chứng tỏ về trình độ, khả năng quy hoạch đô thị còn non kém (khu phố cổ Hà Nội được xây dựng cách nay hơn 100 năm không nằm trong tình trạng bị nước bao vây nhiều ngày liền). Trận lụt này được cho là thảm hoạ và nặng nề hơn trận lụt lịch sử vào năm 1968. Đây là một bài học quý báu cho quá trình quy hoạch đô thị phải được gắn liền với môi trường và tính toán kĩ lưỡng.

Giáo dục

Trong giai đoạn các triều đại phong kiến, Hà Nội là trung tâm giáo dục của cả nước, là nơi diễn ra kì thi Hội, thi Đình để tuyển chọn những nhân tài của nền Nho học ra làm quan. Ngày nay, Hà Nội cũng là một trung tâm giáo dục với rất nhiều trường đại học trong và ngoài nước, thu hút nhiều học sinh về đây học tập và làm việc.

Bia tiến sĩ trong Văn Miếu - Ảnh : Bùi Ngọc Tuấn

Nếu như cách đây gần 1000 năm, Thăng Long đã có Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta, thì nay Hà Nội là nơi tập trung 44 trường đại học và cao đẳng của cả nước, với hơn 330 nghìn học sinh - sinh viên. Bên cạnh đó, thành phố cũng có 25 trường trung học chuyên nghiệp với 15 nghìn học viên, tăng gấp 13 lần năm học sau giải phóng. Tính bình quân cứ 3 người Hà Nội có một người đang đi học. Nhiều học sinh Hà Nội đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm giáo dục đại học lớn nhất Việt Nam.

Hà Nội còn là địa phương đầu tiên trong cả nước được công nhận phổ cập xong cấp trung học cơ sở, một số trường đặc biệt còn dạy trẻ em khuyết tật.

Tuy nhiên, vừa qua, theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có khoảng 1,3 triệu người không biết chữ. Riêng Hà Nội, con số này chiếm gần 235.000 người, trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về số người mù chữ, trong đó vùng Hà Tây cũ đã chiếm tới hơn 220.000 người. Điều này cho thấy thành phố Hà Nội cần có nhiều cố gắng trong việc cân bằng trình độ, mức sống sau khi sáp nhập tỉnh cũng như có nhiều chương trình học tập cộng đồng hơn nữa để góp phần nâng cao dân trí của thủ đô.

Khoa học

Hà Nội không chỉ là một trung tâm chính trị, văn hoá, xã hội của Việt Nam mà còn là trung tâm khoa học kĩ thuật. Toàn thành phố có hơn một trăm viện nghiên cứu ở hai trung tâm Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia cùng các học viện, các bộ, ngành. Hà Nội là nơi hội tụ nhân tài của đất nước. Phần lớn các chuyên gia đầu ngành đang công tác, nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở thủ đô. Có thể nói đây là một nguồn tài nguyên quý giá, một lợi thế nhất trong cả nước về nhu cầu hợp tác khoa học kỹ thuật với các địa phương cũng như nhiều nước trên thế giới.

Hằng năm, Hà Nội tổ chức một số lượng lớn hội thảo, hội nghị với các tổ chức quốc tế song phương và đa phương. Phần lớn các công trình nghiên cứu khoa học cấp quốc gia đều được thực hiện và bảo vệ đề tài tại Hà Nội.

Hà Nội cũng là nơi đào tạo nhân tài cho cả nước. Mảnh đất này tự hào là cái nôi rèn luyện và tạo dựng các thế hệ trí thức của thời đại mới. Các thế hệ danh nhân đó đã bồi đắp trở lại để Hà Nội ngày càng thực sự tiêu biểu cho nền văn hóa Việt Nam.

Nét văn hoá đặc trưng của Hà Nội

- Trong giao tiếp

Ca dao xưa có câu:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

Người Tràng An là một cách gọi về người Hà Nội và văn hoá giao tiếp của Hà Nội cũng gói gọn trong từ thanh lịch. Văn hoá giao tiếp của người Hà Nội nói riêng và con người nói chung bao gồm nhiều yếu tố như ăn, mặc, nói năng, ứng xử ... Câu ca dao trên có cách nói ví von nhưng cũng đủ thể hiện sự tự tin, lịch lãm của nguời Hà Nội, những con người sống trên mảnh đất nổi tiếng là cái nôi văn hoá, là vùng đất hội tụ, thẩm thấu, chắc lọc những tinh hoa của hàng trăm, hàng nghìn năm.

Giọng nói Hà Nội có cái thanh của sự chuẩn mực, phát âm đúng, mẫu mực; có cái đẹp ở giọng nói thanh, nhẹ như rót mật vào tai. Giọng nói ấy được thể hiện trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Trong quan hệ với bạn bè, khách khứa, người Hà Nội bao giờ cũng có một thái độ hiếu khách truyền thống, nồng nhiệt mà không thô bạo, niềm nở mà không suồng sã. Khi khách đến nhà, người chủ dù bận việc cũng phải đứng dậy mời chào. Nếu đang mặc quần áo ngắn, quần cộc, áo cánh thì phải “xin lỗi” khách, mà mặc quần áo dài nghiêm chỉnh rồi mới tiếp khách. Trong cách pha trà đãi khách của người Hà Nội cũng thể hiện trình độ và sự tinh tế riêng. Chè để đãi khách bao giờ cũng là chè ngon, có nhà cẩn thận còn đem ướp sen, nhài hay hoa ngâu để tăng thêm hương vị.

Trong ăn uống, người Hà Nội thể hiện một trình độ thẩm mỹ riêng hay nói cách khác là có một năng khiếu trong việc chế biến món ăn. Điều này thể hiện rất rõ qua mâm cơm ngày Tết. Các món ăn được trình bày rất đẹp, hấp dẫn nhưng vẫn toát lên vẻ lịch sự, chu đáo. Đặc biệt, cách bài trí các món ăn đều được trình bày rất đẹp và hấp dẫn. Khi ăn uống, người Hà Nội bao giờ cũng giữ nền nếp “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” và luôn luôn thận trọng, ý tứ khi trong mâm có người già cao tuổi hay khách khứa. Khi đi ăn tiệm thì cũng rất sành điệu để tìm nơi, tìm vị, chọn thời, chọn cơ, mà đã hợp với nơi nào thì thuỷ chung với nơi đó. Chính chất sành điệu trong ăn uống ấy mà người Hà Nội đã làm ra biết bao món ăn nổi tiếng và trở thành đặc sản chốn Thượng Kinh: phở, bún thang, chả cá, cốm vòng, rươi... Phạm Đình Hổ từng ca ngợi nét văn hoá này của Hà Nội trong Vũ trung tuỳ bút :"Phong tục chuộng thói trung hậu, mọi người hàng ngày giao tiếp với nhau có ý khoan dung, bình dị, giữ thói khiêm nhường. Nếu ai có điều gì sằng bậy, thì chỉ sợ người ta biết mà chê cười. Đến như những kẻ thân quan, quốc thích và những kẻ con em vô lại rong chơi, cũng không dám công nhiên làm càn. Nếu có kẻ nào không theo lễ phép mà làm sằng, thì những bậc phụ lão nhà lương gia lại ngầm đem chuyện ấy để răn bảo con cháu". Đó chính là truyền thống văn minh - văn hiến ngàn năm trong thế ứng xử của người Hà Nội.

- Trong trang phục

Trang phục người Hà Nội có nhiều thay đổi qua các thời kì.

Áo dài Hà Nội những năm đầu thế kỉ XX

Trang phục của người Hà Nội cổ thời kỳ "tiền Thăng Long" chưa có gì khác biệt so với trang phục của người dân Văn Lang - Âu Lạc nói chung: Nam mình trần, đóng khố, thân thể, chân tay đều có xăm hình giao long (rồng) và các hình khác. Nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực bó sát vào người, phía trong mặc yếm che kín. Yếm tròn sát cổ, có trang trí những hình hạt gạo, ngoài ra cũng có một loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực hở một phần vai và lưng. Hai loại áo này có thể là chui đầu hoặc cài khuy bên trái, trên áo cũng có hoa văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng làm cho thân hình tròn lẳn. Đầu và cuối thắt lưng thả xuống phía trước và sau người, tận cùng bằng những tua rủ. Váy bó sát thân với mô típ chấm tròn, những đường gạch chéo song song và hai vòng tròn có chấm ở giữa. Màu sắc thường là màu vàng, đen, đỏ nâu, xám nhạt, vàng nhạt.
Các loại vòng tay, vòng cổ chân và vòng tai bằng đá, bằng đồng cũng là những vật liệu trang sức phổ biến cả ở nam và nữ. Đặc biệt, có những vòng hoa tai bằng đá gắn quả nhạc hay hình con thú. Những chuỗi hạt thường thấy gồm các hạt hình trụ, trái xoan hay hình cầu. Đàn ông, đàn bà đều nhuộm răng đen và có tục ăn trầu cho đỏ môi.

Thiếu nữ Hà Nội xưa

Cuối thế kỷ XIIX đầu XIX, trang phục của người Hà Nội đã có nhiều thay đổi cả về chất liệu lẫn kiểu dáng. Những loại vải như the, lĩnh được sử dụng khá phổ biến với những kiểu dáng chính như tứ thân cho nữ, áo dài cài chéo vạt cho nam. Sang trọng nữa, đàn ông, đàn bà mặc áo dài lụa trắng bên trong, ngoài lồng áo may bằng sa, xuyến hoặc băng (là những loại vải mỏng có độ bóng, đôi khi có hoa).
Vương hầu, quan chức thì dùng hàng đoạn, gấm, vóc. Đoạn gần như lĩnh nhưng dày hơn. Vóc là thứ đoạn mỏng có hoa đồng màu, còn gấm có hoa dệt màu sặc sỡ hoặc bằng kim tuyến. Dân lao động thì chủ yếu dùng áo vải nhuộm nâu, vải mỏng nhuộm nâu non lại là mặt hàng ưa thích của các cô gái bình dân để may áo cánh. Người khá giả cũng dùng màu nâu nhưng là lụa, đũi nhuộm nâu. Thế hệ người già thường thích màu tiết dê, tam giang. Phường Đồng Lâm (nay là làng Kim Liên, quận Đống Đa) có nghề nhuộm nâu nổi tiếng.

Từ cuối thế kỉ XIX, áo tứ thân, ngũ thân phổ biến trong mọi tầng lớp người dân Hà Thành.

Ngày nay, trang phục người Hà Nội tân thời hơn, theo xu hướng thời trang hiện đại những vẫn thể hiện cái đẹp, lịch sự và kín đáo.

Ngoài trang phục ra thì trong cách ăn mặc của người Hà Nội còn có nhiều thứ phụ trang đi kèm như giày dép, mũ, nón, ô, lại thêm chút đồ trang sức bằng vàng, bạc như vòng, nhẫn, dây, xuyến... để làm tăng vẻ đẹp ngoại hình.

Nhìn lại quá trình lịch sử, trang phục của người Thăng Long - Hà Nội đã có nhiều thay đổi qua từng thời đại. Tuy nhiên cái vẻ đẹp lịch sự, trang nhã trong phong cách ăn mặc và trong kiểu cách quần áo thì vẫn được bảo tồn như là một đặc điểm riêng của trang phục Hà Nội. Có nhà văn nói rằng, người Hà Nội trong bộ quần áo cần lao giản dị mà vẫn đượm vẻ phong lưu. Đó quả là một nhận định tinh tế.

- Sở thích chơi hoa, cây cảnh

Người Hà Nội có một thú chơi tao nhã là  chơi hoa và thưởng thức hoa, cây cảnh. Mỗi chậu hoa hay cây cảnh đối với họ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Họ trồng hoa để thưởng thức cái đẹp của hoa.

Từ đời Lý, thế kỷ XI, quanh Thăng Long đã có mấy làng trồng hoa để phục vụ cho nhu cầu trong kinh thành mà tên đất tên làng còn ghi dấu đến ngày nay: "đồng hoa", Yên Hoa, nay là làng Võng Thị (gần Bưởi); Nghi Tàm gần Hồ Tây; rồi các tên như Hồng Mai, Hoàng Mai, Tương Mai còn gọi là Kẻ Mơ cũng là đất hoa xưa. Xa hơn là Tây Hồ, Quảng Bá, Hữu Tiệp, Đại Yên nối tiếp nhau thành đất hoa cùng với dinh đào Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân) tạo thành một vành đai hoa xung quanh chốn kinh kỳ.
Các triều đại Lý, Trần, Lê đều xây dựng những vườn hoa đẹp trong kinh thành Thăng Long. Tất nhiên, đó chỉ là những vườn ngự dành riêng cho vua chúa chứ chưa phải là những công viên dành cho dân chúng. Sử cũ còn ghi tên nhiều vườn hoa nổi tiếng ở thời Lý như vườn Quỳnh Lâm, vườn Thắng Cảnh, vườn Xuân Quang, vườn Thượng Lâm...

Đào Nhật Tân - Ảnh : Mquiz

Nhà dân, những nhà có lối sống tao nhã thông thường là bao bên ngoài một hàng rào Râm bụt, lá xanh thẫm, hoa đỏ tươi, một hàng Duối lốm đốm quả vàng hoặc một hàng Găng xén phẳng như bức tường. Một giàn “Thiên lý thơm nghìn dặm xa” đón khách vào cổng (Phùng Khắc Khoan). Ngõ nhỏ với hai dãy Tóc Tiên bên cạnh, trước sân là một luống Hồng, một luống Huệ, mấy khóm Nhài. Bên bể nước là một cây Lan tiêu hoặc một gốc Dạ Hợp. Trước hiên nhà, một cây Tầm xuân nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Hoặc cụm Ngâu to thành bụi được cắt tỉa tạo hình tròn đầy như chiếc mâm xôi, hương hoa Ngâu từ tốn, kín đáo... Với người Thăng Long - Hà Nội, hoa là biểu tượng cho tính cách con người, người chơi hoa, thưởng hoa còn là cách bày tỏ, gởi gắm tâm sự, thể hiện cái tôi, sở thích cá nhân. Cúc tượng trưng cho nếp sống khiêm tốn, điềm đạm, "Phú quý lòng hơn phú quý danh "(Nguyễn Trãi). Mẫu đơn là vua hoa, hoa phú quý, hoa Thiên hương quốc sắc. Đào đầm ấm khí dương xuân, phù hợp với mọi người, mọi nhà. Lan được gọi là vương giả hương, thanh nhã, không phàm tục. Thuỷ tiên với vẻ đẹp trang trọng tiêu biểu cho sự tinh khiết. Trà mi, Hải đường, nụ lớn hoa to, cánh dày mà hương kín đáo, biểu tượng cho sự đầy dặn, phúc hậu. Nhài thoang thoảng, hoa mộc ngát đậm, hoa hồng thanh cao... Thế nên ca dao lại có câu:

Ai chơi ta cũng chơi cùng

Chơi cúc quân tử, chơi tùng trượng phu

Thú chơi cây cảnh của các gia đình ở Hà Nội trước đây tuân theo một ước lệ đã thành công thức. Đó là cây phải có bộ, tứ hữu gồm Mai, Lan, Trúc, Cúc hoặc tứ quý gồm Mai, Sen, Cúc, Tùng hoặc Tùng, Cúc, Trúc, Mai.

Cùng với cây cảnh lại phải có thêm vài chiếc lồng nuôi chim quý như Khướu, Yểng, Hoạ mi, Sáo, Vẹt, Yến (thường là Hoàng yến, Bạch yến) hoặc một bể nuôi cá vàng, cá cảnh...

Ngày Tết, người dân Hà Nội có hoa đào, trong đó nổi tiếng nhất là đào Nhật Tân. Hiện nay, vườn đào Nhật Tân đã không còn như xưa nhưng hoa đào vẫn là một biểu tượng, một thú chơi của người Hà Nội mỗi độ xuân về.

Trong đời sống văn hoá của người Thăng Long - Hà Nội, hoa và cây cảnh đã là một nhu cầu, góp phần làm cho sinh hoạt xã hội thêm phong phú, vui tươi.
Người Hà Nội thanh lịch. Thế nhưng, trong cuộc sống ngày nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ ở Hà Nội vẫn còn tính tuỳ tiện, cẩu thả, ham thích vui chơi, cờ bạc, rượu chè, ý thức vô kỉ luật và ý thức pháp luật còn kém. Đây cũng là một đặc trưng đáng buồn của cư dân Kẻ Chợ, mang đậm dấu tích của cư dân nông nghiệp nhiều đời.

Kinh tế
 

Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam. Cũng như những thành phố phát triển khác, Hà Nội phát triển kinh tế theo cơ cấu mạnh về dịch vụ, du lịch. Tuy nhiên trong lĩnh vực công nghiệp, thành phố đã xây hoàn chỉnh 9 khu công nghiệp, 11 cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Các khu công nghiệp này chủ yếu được xây dựng từ lâu, phần lớn thiết bị đã lạc hậu, lại tập trung nằm xen kẽ trong khu dân cư, việc xử lí chất thải ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và đời sống người dân. Vì vậy các khu công nghiệp này tập trung phát triển đầu tư theo chiều sâu, thay đổi thiết bị và công nghệ, hiện đại hóa sản xuất. Ngoài ra, với việc đầu tư các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung kĩ nghệ cao đã giúp hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường. Nhiều sản phẩm công nghiệp của Hà Nội cũng đã đứng vững trên thị trường.

Với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng như hiện nay, nông nghiệp Hà Nội cũng đã chuyển dịch cơ cấu để tăng năng xuất, sản lượng. Hiện Hà Nội vẫn đang nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng và là một trong hai vựa lúa lớn nhất Việt Nam, cung cấp một sản lượng lớn không chỉ tiêu dùng trong nước mà cả xuất khẩu.

Năm 2007, Hà Nội đạt một số thành tựu về kinh tế nổi bật: GDP tăng 12,07%, công nghiệp tăng 21,4%, tổng mức bán lẻ dịch vụ và doanh thu hàng hóa tăng 21,9%, xuất khẩu tăng 22% và mở rộng quan hệ giao thương với trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 22%, thu ngân sách tăng 19,2%, giá trị sản xuất  nông lâm, thủy sản tăng 2.44%... Tuy nhiên, lĩnh vực dịch vụ phát triển chậm, chỉ đạt 2/3 kế hoạch. Một số vấn đề xã hội bức xúc như công khai quy trình, thủ tục bán nhà ở thuộc các dự án dân sinh đã không được thực hiện nghiêm túc.

Mặc dù chỉ chiếm 3,9% về dân số và khoảng 0,3% diện tích lãnh thổ, Hà Nội đóng góp 8,4% vào GDP cả nước, 8,3% giá trị kim ngạch xuất khẩu, 8,2% giá trị sản xuất công nghiệp, 9,6% tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, 10,2% vốn đầu tư xã hội, 14,1% vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và 14,9% thu ngân sách nhà nước. Năm 2006, Hà Nội đứng thứ 3 cả nước với khoản thu ngân sách là 34.075 tỉ đồng, sau thành phố Hồ Chí Minh là 67.254 tỉ đồng và Bà Rịa - Vũng Tàu là 65.030 tỉ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2008, GDP của Hà Nội tăng 10,04%. Đây là con số tăng cao nhất trong vòng 6 năm qua. Tốc độ GDP tăng cao nhờ tổng mức đầu tư xã hội đạt 10,115 tỉ đồng (tăng 16,3% so với cùng kì năm trước). Riêng giá trị cơ bản được thực hiện từ nguồn vốn ngân sách tăng 90,8%, đạt mức kỉ lục trong nhiều năm qua. Hà Nội thu hút 250 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 4,427 tỉ USD, kim ngạch xuất khẩu tăng 45%. Trong 6 tháng cuối năm 2008, Hà Nội đã đưa ra mức tổng thu ngân sách của năm 2008 là 62.206 tỉ đồng. Mức tăng trưởng GDP là 11.5-12% và GDP bình quân đầu người  là 1.500USD/người/năm.

Diện mạo của Hà Nội đang thay đổi. Các công trình xây dựng làm Hà Nội trở nên khang trang hơn. Đầu tư cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị tăng, tập trung mở rộng các tuyến đường, nút giao thông quan trọng, triển khai xây mới các cầu qua sông Hồng và chuẩn bị đầu tư các tuyến đường sắt đô thị.

Thời gian tới, Hà Nội sẽ tiếp tục chuyển mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng mở rộng dịch vụ - công nghiệp, phát triển các ngành, các lĩnh vực và sản phẩm công nghệ cao, đồng thời, phát triển công nghiệp có chọn lọc, ưu tiên phát triển các ngành: tự động hoá, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tập trung phát triển các ngành và nhóm sản phẩm có lợi thế, thương hiệu.

Bên cạnh đó, thành phố cũng phát triển thêm và cải tạo chất lượng các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ chất lượng cao như công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng và y tế cũng như tăng cường việc thu hút nhân tài, tận dụng nguồn chất xám dồi dào trong nước.

Giao thông
 

Hà Nội có một mạng lưới giao thông thuận tiện bao gồm đường hàng không, đường sắt và đường bộ.

Đường hàng không: sân bay quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thành phố 35km) có nhiều chuyến bay nội địa và nước ngoài, phục vụ nhu cầu đi lại nhanh chóng và là cầu nối giao thông quan trọng trong nước và quốc tế. Cùng với Nội Bài còn có sân bay Gia Lâm (cách Hà Nội chừng 8km). Đây vốn là sân bay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây giờ nơi đây được cải tạo trở thành sân bay trực thăng phục vụ du lịch, sẵn sàng phục vụ cho du khách những tour du lịch tới các điểm tham quan hấp dẫn.

Đường bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm toả đi khắp mọi miền trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu…

Đường sắt: Hà Nội cũng là đầu mối giao thông đường sắt trong nước theo tuyến đường sắt Bắc – Nam với 6 tàu từ S1-S6 phục vụ liên tục và có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc), từ đây có thể sang nhiều nước châu Á khác và cả châu Âu...

Đường thuỷ: Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì; có bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.

Tài liệu tham khảo
 

- Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỉ mới - Vietbooks - NXB Thông tấn 2003

- Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam - Lê Thông - NXB Giáo dục 2006

- Viet Nam tourist guide book - Tổng cục du lịch Việt Nam - NXB Thông tấn 2008

- Đại Việt sử kí toàn thư - NXB Giáo Dục

- Việt sử thông giám cương mục - Quốc sử quán Triều Nguyễn - NXB Giáo Dục

- Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn - NXB Giáo dục

- Lịch sử đường phố Hà Nội - Nguyễn Vinh Phúc - NXB Trẻ

- Tạp chí Xưa và Nay


©2019 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt