<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Yên Bái

 

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, thuộc vùng Đông Bắc. Lãnh thổ nằm trong hệ toạ độ từ 21024’40” đến 22016’32” vĩ độ Bắc và từ 103056’26” đến 105003’07” kinh độ Đông. Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang và tỉnhTuyên Quang. Phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ. Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai.

Yên Bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước.

Địa hình

Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc – Đông Nam: phía Tây có dãy núi Hoàng Liên Sơn – Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồngsông Đà, tiếp đến là dãy núi Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồngsông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảysông Lô.

Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn vùng cao và vùng thấp. Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh. Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động và phát triển kinh tế - xã hội. Vùng thấp có độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Về phương diện địa hình, Yên Bái có nhiều thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - xã hội theo hướng Tây Bắc - Đông Nam dọc thung lũng các con sông. Trong khi đó, mối liên hệ kinh tế theo hướng Đông - Tây hết sức khó khăn do núi cao, đèo dốc.

Khí hậu

Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22 - 230C; lượng mưa trung bình 1.500 – 2.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 – 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp. Tuy nhiên, khí hậu của Yên Bái ít nhiều chịu tác động của địa hình núi cao, phức tạp.

Yên Bái có hai mùa rõ rệt: Mùa hạ từ tháng IV đến X. Đây là thời kỳ nóng ẩm, nhiệt độ trung bình trên 250C. Mưa nhiều, thường kèm gió xoáy, lũ quét, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Sự phân bố mưa và lượng mưa chịu tác động rõ nét của địa hình. Lượng mưa giảm từ Đông sang Tây. Mùa đông kéo dài từ tháng XI đến tháng III năm sau. Ở vùng cao, mùa đông đến sớm hơn và kết thúc muộn hơn so với vùng thấp.

Về đại thể, có thể chia Yên Bái thành hai tiểu vùng khí hậu:

- Tiểu vùng phía Đông có ranh giới là dãy núi Hoàng Liên Sơn. Tiểu vùng này phân hoá thành hai khu vực: khu vực thuộc thung lũng sông Hồng và khu vực thuộc thung lũng sông Chảy.

- Tiểu vùng phía Tây, nét tiêu biểu là nắng nhiều, mưa tương đối ít và khí hậu có tính chất cận nhiệt. Tiểu vùng này có sự phân hoá thành ba khu vực: khu vực Mù Căng Chải, khu vực Tây Nam Văn Chấn, khu vực Văn Chấn – Tú Lệ.

Tỉnh có tổng lượng nhiệt là 7500 - 80000C, nhiệt độ trung bình khoảng 220C. Lượng mưa từ 1500 - 2200mm, độ ẩm khoảng 87%.

Tài nguyên thiên nhiên

- Đất

Đất Yên Bái gồm 8 nhóm đất chính: đất phù sa, đất glây, đất đen, đất xám, đất đỏ, đất mùn và đất có tầng đất mỏng. Hầu hết đất ở Yên Bái thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây lúa nước và rừng phòng hộ.

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 688.292 ha, trong đó đất nông nghiệp 69.315,12 ha, chiếm 10,07%; đất lâm nghiệp 282.241,86 ha, chiếm 41%; đất chuyên dùng 29.199,78 ha, chiếm 4,25%; đất ở 3.804,54 ha, chiếm 0,55% và đất chưa sử dụng 303.730,7 ha, chiếm 44,13%. Trong đó số đất chưa sử dụng, đất có khả năng nông nghiệp là 1.358,26 ha; đất có khả năng lâm nghiệp là 278.729,14 ha.

- Rừng

Rừng là tài nguyên gắn bó trực tiếp với cuộc sống của đông đảo đồng bào các dân tộc ở Yên Bái từ bao đời nay. Rừng Yên Bái có hệ thực vật phong phú với trên 500 loại thực vật, thuộc 210 họ; trên 200 loài cây gỗ, điển hình là các loại cây trong các họ: long não, chè, ngọc lan... Rừng gỗ trồng phần lớn ở các vùng giấy sợi, rừng phòng hộ đầu nguồn.

Trong rừng, giới động vật khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, động vật dưới tán rừng bị suy giảm do việc săn bắn bừa bãi.

Tổng diện tích rừng 296.990 ha, trong đó rừng tự nhiên 193.928 ha, rừng trồng 103.062 ha; độ che phủ đạt 42,7%; tổng trữ lượng gỗ 18 triệu m3 với nhiều loại gỗ quý hiếm như pơ- mu, đinh hương, táu mật, chò chỉ, sến ...

- Khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản Yên Bái khá đa dạng, hiện đã điều tra 176 điểm mỏ khoáng sản, xếp vào các nhóm khoáng sản năng lượng, khoáng sản vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản kim loại và nhóm nước khoáng.

Nhóm khoáng sản năng lượng gồm các loại than nâu, than antraxit, đá chứa dầu, than bùn…; loại than nâu và than lửa dài tập trung ở ven sông Hồng, sông Chảy và các thung lũng bồn địa như Phù Nham (Văn Chấn).

Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng gồm đá vôi, đá ốp lát, sét gạch ngói, cát sỏi…được phân bố rộng rãi trên khắp địa bàn tỉnh.

Nhóm khoáng chất công nghiệp gồm đầy đủ các nguyên liệu công nghiệp từ nguyên liệu phân bón, nguyên liệu hoá chất, nguyên liệu kỹ thuật, đặc biệt là đá quý và bán đá quý được phân bố chủ yếu ở Lục Yên và Yên Bình.

Nhóm khoáng sản kim loại có đủ các loại từ kim loại đen (sắt) đến kim loại nâu (đồng, chì, kẽm) và kim loại quý (vàng), đất hiếm phân bố chủ yếu ở hữu ngạn sông Hồng.

- Nước

Mạng lưới sông ngòi của Yên Bái tương đối phong phú.  Tỉnh có hai hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Chảy. Ngoài ra, Yên Bái có hàng trăm sông ngòi, suối lớn nhỏ khác nhau và hồ Thác Bà với diện tích 19.050 ha mặt nước. Thế nhưng, các ngòi, suối ở Yên Bái đều bắt nguồn từ núi cao nên dốc, dòng chảy xiết, lưu lượng thay đổi thất thường, hay gây lũ đột ngột, nhưng lại chứa nguồn thuỷ năng phong phú.

Yên Bái cũng có nguồn nước ngầm tương đối phong phú, phân bố đều, ở độ sâu từ 20 - 200m. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này chưa được điều tra cặn kẽ. Tỉnh có có nguồn nước khoáng nóng, phân bố ở vùng phía Tây của tỉnh (Văn Chấn, Trạm Tấu), chủ yếu là nước khoáng chữa bệnh và điều dưỡng sức khỏe.

Du lịch

Yên Bái là tỉnh có tiềm năng du lịch, nhất là đối với các loại hình du lịch sinh thái, văn hoá. Tài nguyên du lịch tự nhiên kết hợp với tài nguyên du lịch nhân văn đã tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, di tích có khả năng thu hút du khách.

Yên Bái là một tỉnh miền núi, phong cảnh thiên nhiên đa dạng và đẹp như hang Thẩm Lé (Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), hồ Thác Bà, du lịch sinh thái suối Giàng, cánh đồng Mường Lò; di tích cách mạng, đền Nguyễn Thái Học, Căng Đồn, Nghĩa Lộ…Tỉnh Yên Bái có nhiều dân tộc thiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợp phát triển du lịch sinh thái.

Ngoài ra, Yên Bái còn có nhiều di tích. Đó là đền Đông Cuông và các di vật thuộc văn hoá Sơn Vi, đền Gia Quốc Công, chùa Hắc Y, chùa Bắc Lẫm, đền Tuần Quán

Để phát triển du lịch, Yên Bái sẽ tập trung đầu tư vào 2 địa điểm có nhiều tiềm năng là hồ Thác Bà và khu du lịch Suối Giàng.

Đặc sản

  • Lạp cá Mường Lò

  • Dẻo thơm nếp Tú Lệ

  • Măng chua héo

  • Rêu đá vùi than

  • Cá sỉnh nướng (cá suối nướng)

Hành chính và các đơn vị trực thuộc

Tỉnh lỵthành phố Yên Bái

Các đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Yên Báithị xã Nghĩa Lộ và 7 huyện Lục Yên, Văn Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu

Lịch sử hình thành và phát triển

Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện như đền, tháp, khu di tích lịch sử.

Được thành lập năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào tháng 2/1930. Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học.

Sau giải phóng miền Nam 30/4/1975, Yên Bái cùng với Lào CaiNghĩa Lộ sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Ngày 12/8/1991, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá VII, tỉnh Hoàng Liên Sơn được tách ra thành 2 tỉnh Yên Bái, Lào Cai.

Kinh tế

Yên Bái có lợi thế để phát triển ngành nông – lâm sản gắn với vùng nguyên liệu: trồng rừng và chế biến giấy, bột giấy, ván nhân tạo; trồng và chế biến quế, chè, cà phê; trồng và chế biến sắn, hoa quả; nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Với nguồn khoáng sản phong phú, tỉnh có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác và chế biến khoáng sản như đá quý, cao lanh, fenspat, bột cácbonnát canxi, sắt…và sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, gạch, sứ kỹ thuật, sứ dân dụng, đá xẻ ốp lát, đá mỹ thuật và các loại vật liệu xây dựng khác.

Cơ cấu nền kinh tế của Yên Bái trong những năm vừa qua đã có sự chuyển dịch theo xu hướng giảm tỷ trọng của nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng của dịch vụ và công nghiệp. Tuy nhiên, sự chuyển dịch đó còn chậm và không đều.

Việc chuyn dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ giữa tiểu vùng phía Đông và tiểu vùng phía Tây đều theo xu thế tích cực, nghĩa là tăng tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng của nông, lâm, ngư nghiệp.

Văn hoá

Yên Bái là nơi sinh sống của cư dân nhiều dân tộc. Mỗi dân tộc đều bảo tồn được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình. Nét văn hoá đặc sắc của người Tày thể hiện qua những làn điệu hát ru truyền thống, ca ngợi tình yêu đôi lứa, các tấm gương sáng trong lao động xây dựng quê hương bản làng, đoàn kết đấu tranh chống giặc ngoại xâm và thiên tai. Người Dao giỏi săn bắn thú rừng và làm nương rẫy. Y phục phụ nữ Dao được thêu thùa với những hoạ tiết hoa văn đẹp và cầu kỳ. Người H’Mông có truyền thống nhà trệt, hôn nhân tự do nhưng rất thuỷ chung. Trang phục của người H’Mông đồng thời cũng là những sản phẩm cho thấy kỹ thuật cao về tạo hình của nghề dệt. Tiếng khèn, sáo gọi bạn của các chàng trai H’Mông như thôi miên người nghe.

Yên Bái còn là địa bàn cư trú của người Việt Cổ. Những công cụ bằng đá, bằng đồng liên tiếp tìm thấy trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã làm cho các cứ liệu sử học phong phú thêm và minh chứng cho truyền thống văn hoá của các dân tộc trong tỉnh.

Yên Bái có thiên nhiên đa dạng, nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đã được xếp hạng. Người dân Yên Bái có truyền thống văn hoá tốt đẹp lưu truyền qua nhiều thế kỷ.

Những lễ hội, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Yên Bái như lễ "tăm khẩu mẩu" của người Tày ở Ðồng Khê (Văn Chấn), lễ cưới của người Dao ở Bảo Ái (Yên Bình), lễ đón mẹ lúa của người Khơ Mú ở Nghĩa Sơn (Văn Chấn)... cũng là các sản phẩm văn hoá truyền thống cần được lưu giữ, phát huy.

Giao thông

Giao thông ở Yên Bái có hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thuỷ. Thông thương từ Yên Bái đến các tỉnh lân cận của miền Tây Bắc và Việt Bắc ngày càng phát triển nhất là khi hệ thống đường bộ đang tiếp tục được hoàn thiện, tuyến đường sắt Hà Nội - Yên Bái - Lào Cai nối liền tới Trung Quốc được nâng cấp.

Thành phố Yên Bái cách Hà Nội khoảng 180km. Tỉnh nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai. Tỉnh có quốc lộ 32 đi Lào Cai, Phú Thọ, quốc lộ 37 đi Tuyên Quang.

Yên Bái là đầu mối giao thông quan trọng của các tỉnh miền núi phía Bắc, có mạng lưới giao thông tương đối phát triển và đa dạng, gồm đường bộ: 3.981 km; đường sắt: 84km; đường thuỷ: gồm tuyến sông Hồng dài 115 km, tuyến hồ Thác Bà dài 80 km.

Trong tương lai, Yên Bái sẽ có đường hàng không dân dụng.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt